Sức khỏe môi trường.pdf – Tài liệu text

Sức khỏe môi trường.pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.86 MB, 250 trang )

Bộ y tế

sức khỏe môi trờng
Sách dùng đào tạo cử nhân y tế công cộng
Mã số Đ14 Z03

Nhà xuất bản Y học
Hà Nội – 2006

Chủ biên:
PGS. TS. Nguyễn Văn Mạn
Th ký biên soạn:

CN. Trần Thị Tuyết Hạnh
CN. Nguyễn Hữu Thắng
ThS. Vũ Thị Thu Nga
ThS. Nguyễn Ngọc Bích

Những ngời biên soạn:

PGS. TS. Bùi Thanh Tâm
PGS. TS. Nguyễn Văn Mạn
PGS. TS. Đặng Đức Phú
GS.TS. Trơng Việt Dũng
TS. Nguyễn Huy Nga
PGS. TS. Lê Đình Minh
PGS. TS. Lu Đức Hải
ThS. Lê Thị Thanh Hơng
ThS. Nguyễn Trinh Hơng

Tham gia tổ chức bản thảo:
ThS. Phí Nguyệt Thanh và nhóm th ký

â
Bản quyền thuộc Bộ Y tế (Vụ khoa học và Đào tạo)

2
Lời nói đầu
Thực hiện Nghị định 43/2000/NĐ-CP ngày30/8/2000 của Chính phủ quy định
chi tiết và hớng dẫn triển khai Luật Giáo dục, Bộ Giáo dục & Đào tạo và Bộ Y tế đã
phê duyệt, ban hành chơng trình khung cho đào tạo cử nhân y tế công cộng. Bộ Y tế
tổ chức biên soạn bộ tài liệu dạy – học các môn học cơ sở và chuyên môn theo chơng
trình mới nhằm từng bớc xây dựng bộ sách chuẩn trong công tác đào tạo cử nhân y tế
công cộng. Sức khỏe môi trờng là tài liệu đã đợc biên soạn theo chơng trình giáo
dục của Trờng Đại học Y tế công cộng trên cơ sở chơng trình khung đã đợc phê
duyệt. Năm 2005, cuốn sách này đợc Hội đồng chuyên môn thẩm định sách giáo
khoa và tài liệu dạy – học của Bộ Y tế thẩm định. Bộ Y tế thống nhất sử dụng làm tài
liệu dạy – học chính thức của ngành trong giai đoạn hiện nay. Trong thời gian từ 3 đến
5 nam sách cần đợc chỉnh lý, bổ sung và cập nhật.
Nội dung sách Sức khỏe môi trờng đã bám sát đợc các yêu cầu về kiến thức cơ
bản, chính xác khoa học, cập nhật và thực tiễn của Việt Nam nhằm cung cấp cho sinh
viên những kiến thức cơ bản về sức khỏe môi trờng, những vấn đề cấp bách về sức
khỏe môi trờng hiện nay ở Việt Nam và các yếu tố nguy cơ cho sức khỏe môi trờng.
Sách dùng để đào tạo cử nhân y tế công cộng, đồng thời cũng là tài liệu tham khảo tốt
cho sinh viên các chuyên ngành khác và các cán bộ y tế quan tâm đến lĩnh vực sức
khỏe môi trờng.
Vụ Khoa học và Đào tạo, Bộ Y tế xin chân thành cảm ơn các giảng viên Trờng
Đại học Y tế công cộng tích cực tham gia biên soạn cuốn sách này. Đây là lĩnh vực
khoa học mới phát triển nên các nội dung biên soạn không tránh khỏi những thiếu sót
và cần đợc bổ sung cập nhật. Vụ Khoa học và Đào tạo mong nhận đợc nhiều ý kiến
đóng góp của độc giả và đồng nghiệp để cuốn sách ngày càng hoàn thiện hơn.

Vụ Khoa học và Đào tạo
Bộ Y tế

3

4
Mục lục
PHầN 1.
Dành cho cử nhân y tế công cộng năm thứ 2
Bài 1. Nhập môn Sức khoẻ môi trờng 9
PGS. TS. Đặng Đức Phú – ThS. Lê Thị Thanh Hơng
Bài 2. Quản lý nguy cơ từ môi trờng 26
GS. TS. Trơng Việt Dũng
Bài 3. Cơ sở sinh thái học của sức khoẻ và bệnh tật 58
PGS. TS. Nguyễn Văn Mạn ThS. Lê Thị Thanh Hơng

Bài 4. Ô nhiễm không khí 86
ThS. Nguyễn Trinh Hơng – ThS. Lê Thị Thanh Hơng
Bài 5.

Quản lý chất thải rắn và chất thải y tế 110
TS. Nguyễn Huy Nga – ThS. Lê Thị Thanh Hơng
Bài 6. Nớc và vệ sinh nớc 141
PGS. TS. Lê Đình Minh

PHầN 2.
Dành cho cử nhân y tế công cộng năm thứ 3
Bài 7. An toàn môi trờng 169
PGS. TS. Bùi Thanh Tâm
Bài 8. Kiểm soát véc-tơ truyền bệnh 183
PGS. TS. Nguyễn Văn Mạn
Bài 9. Phát triển bền vững

201
PGS. TS. Lu Đức Hải

Bài 10. Quản lý sức khoẻ môi trờng 222
GS. TS. Trơng Việt Dũng

5

6

PhÇn 1
Dµnh cho cö nh©n y tÕ c«ng céng
n¨m thø 2

7

8
BàI 1

NHậP MÔN SứC KHOẻ MÔI TRƯờNG
MụC TIÊU
1. Trình bày đợc các thành phần chính của môi trờng.
2. Nêu đợc các khía cạnh lịch sử của sức khoẻ môi trờng.
3. Trình bày đợc mối quan hệ giữa sức khoẻ và môi trờng, các chính sách về sức
khoẻ môi trờng và quản lý môi trờng.
4. Giải thích đợc những vấn đề sức khoẻ môi trờng mang tính cấp bách ở địa
phơng và trên thế giới.
Sức khoẻ môi trờng là nền tảng của y tế công cộng, cung cấp rất nhiều lý luận
cơ bản nền tảng cho một xã hội hiện đại. Quá trình cải thiện tình trạng vệ sinh, chất

lợng nớc uống, vệ sinh và an toàn thực phẩm, kiểm soát bệnh tật và cải thiện điều
kiện nhà ở là nhiệm vụ trung tâm của quá trình thực hiện việc nâng cao chất lợng
cuộc sống và tiếp tục những kinh nghiệm quý báu của cả thế kỷ qua. Tuy nhiên, hiện
nay cuộc sống của ngời dân trong thời kỳ đổi mới có nhiều thay đổi: việc đô thị hoá,
tăng dân số, thay đổi lối sống, nạn phá rừng, tăng sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật
trong nông nghiệp, dùng các hormon tăng trởng trong chăn nuôi, sự phát triển công
nghiệp và không kiểm soát đợc những chất thải công nghiệp,…. làm cho môi trờng
đang bị suy thoái. Trong những năm qua, thảm họa thiên nhiên đã gây nên nhiều thiệt
hại lớn nh lũ quét ở Lai Châu, Sơn La; úng lụt ở Đồng bằng Sông Cửu Long; hạn hán
ở nhiều nơi nh Tây Nguyên. Hiện nay, những trờng hợp bị nhiễm độc hoá chất, ngộ
độc các hoá chất bảo vệ thực vật và ngộ độc thực phẩm vẫn xảy ra thờng xuyên. Có
nhiều chỉ thị và nghị quyết bàn về phơng hớng phát triển bền vững, nghĩa là bảo
đảm cho môi trờng và môi sinh trong sạch, giảm thiểu ô nhiễm, nhằm nâng cao sức
khoẻ con ngời nh Luật bảo vệ môi trờng Việt Nam đã nêu. Bên cạnh đó còn phải
kể đến môi trờng xã hội, môi trờng làm việc cũng có nhiều ảnh hởng đến sức khoẻ
con ngời. Do vậy, việc nghiên cứu, xử lý, phòng chống ô nhiễm môi trờng và cải
thiện môi trờng xã hội là một việc hết sức cần thiết. Muốn làm đợc điều đó mọi
ngời, mọi tổ chức trong xã hội mà trớc hết là học sinh, sinh viên – những ngời làm
chủ tơng lai đất nớc phải cùng nhau tham gia giải quyết thì mới đạt đợc kết quả.
Đó là những vấn đề môi trờng ảnh h
ởng đến đời sống xã hội, đến kinh tế đất nớc.
Còn môi trờng ảnh hởng đến sức khoẻ con ngời cụ thể nh thế nào? Thế nào gọi là
sức khoẻ môi trờng? Chúng tôi sẽ trình bày những khái niệm này ở phần sau.

9
1. CáC THàNH PHầN CƠ BảN CủA MÔI TRƯờNG
1.1. Môi trờng là gì?
Theo Luật bảo vệ môi trờng Việt Nam (1993): môi trờng bao gồm các yếu tố
tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con
ngời, có ảnh hởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con ngời và

thiên nhiên.
1.2. Các thành phần của môi trờng
Các yếu tố kể trên còn gọi là các thành phần của môi trờng bao gồm: không
khí, đất, nớc, khí hậu, âm thanh, ánh sáng, sức nóng, bức xạ, động thực vật thuộc các
hệ sinh thái, khu dân c, khu sản xuất, cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di
tích lịch sử, khu vui chơi giải trí, v.v…. Tóm lại, các thành phần của môi trờng bao
gồm môi trờng vật lý, môi trờng sinh học và môi trờng xã hội.
1.2.1. Môi trờng vật lý
Môi trờng vật lý bao gồm các yếu tố vật lý nh: khí hậu, tiếng ồn, ánh sáng,
bức xạ, gánh nặng lao động. Bên cạnh các yếu tố vật lý còn có những yếu tố hoá học
nh bụi, hoá chất, thuốc men, chất kích thích da, thực phẩm, v.v…
1.2.2. Môi trờng sinh học
Môi trờng sinh học bao gồm: động vật, thực vật, ký sinh trùng, vi khuẩn, virus,
các yếu tố di truyền, v.v…
1.2.3 Môi trờng xã hội
Môi trờng xã hội bao gồm: stress, mối quan hệ giữa con ngời với con ngời,
môi trờng làm việc, trả lơng, làm ca, v.v….
2. CáC KHíA CạNH LịCH Sử CủA SứC KHOẻ MÔI TRƯờNG
2.1. Khái niệm về sức khoẻ môi trờng
Sức khoẻ môi trờng là gì? Theo quan điểm của nhiều ngời sức khoẻ môi
trờng chính là sức khoẻ của môi trờng. Đây là các ý niệm về đời sống hoang dã, về
rừng, sông, biển, v.v…. và theo họ thì sức khoẻ môi trờng đồng nghĩa với việc bảo vệ
môi trờng. Những ngời khác thì cho rằng sức khoẻ môi trờng là các vấn đề về sức
khoẻ của con ngời có liên quan đến điều kiện sống, sự nghèo nàn, lạc hậu, không đủ
nớc sạch, lũ lụt, sự phá hoại của côn trùng và súc vật có hại – tất cả các thách thức đó
chúng ta đã trải qua, đã chống trả trong suốt quá trình hình thành và phát triển của con
ngời và cuộc sống (nhất là những năm gần đây) và chúng ta đã chiến thắng.

10
Cả hai quan điểm này đều cha đúng, cha chính xác, sức khoẻ môi trờng

không đồng nghĩa với sức khoẻ của môi trờng và bảo vệ môi trờng và cũng không
bó hẹp trong việc kiểm soát các loại dịch bệnh của thế kỷ qua. Cho đến hiện nay nhiều
tác giả đa ra khái niệm về sức khoẻ môi trờng nh sau:Sức khoẻ môi trờng là tạo
ra và duy trì một môi trờng trong lành, bền vững để nâng cao sức khoẻ cộng đồng.
2.2. Lịch sử phát triển của thực hành sức khoẻ môi trờng
Mỗi sinh vật trên trái đất đều có môi trờng sống của riêng mình, nếu thoát ra
khỏi môi trờng tự nhiên đó hoặc sự biến đổi quá mức cho phép của môi trờng mà
chúng đang sống thì chúng sẽ bị chết và bị huỷ diệt. Do đó, đảm bảo sự ổn định môi
trờng sống là điều kiện cơ bản để duy trì sự sống của mọi loài sinh vật trên trái đất.
Những ví dụ rất giản đơn mà mọi ngời đều biết là ngộ độc oxyd carbon (CO) ở
những ngời đi kiểm tra các lò gạch thủ công đốt bằng than hoặc cá chết do nớc bị ô
nhiễm hoá chất của nhà máy phân lân Văn Điển, v.v… Điều đó có nghĩa là môi
trờng, con ngời và sức khoẻ con ngời có mối liên quan mật thiết với nhau và có thể
cái nọ là nhân quả của cái kia. Không phải đến bây giờ con ngời mới biết tới mối
quan hệ này, mà từ hàng ngàn năm trớc ngời Trung Quốc, ấn Độ, Ba T, Ai Cập cổ
đại đã biết áp dụng các biện pháp thanh khiết môi trờng để ngăn ngừa và phòng
chống dịch cho cộng đồng và quân đội. Các t liệu lịch sử cho thấy từ những năm
trớc công nguyên, ở thành Aten (Hy Lạp) con ngời đã xây dựng hệ thống cống
ngầm để thải nớc bẩn, đã biết dùng các chất thơm, diêm sinh để tẩy uế không khí
trong và ngoài nhà để phòng các bệnh truyền nhiễm.
Ngời La Mã còn tiến bộ hơn: khi xây dựng thành La Mã, ngời ta đã xây dựng
một hệ thống cống ngầm dẫn tới mọi điểm trong thành phố để thu gom nớc thải,
nớc ma dẫn ra sông Tibre, đồng thời xây dựng một hệ thống cung cấp nớc sạch
cho dân chúng trong thành phố. Vào thời kỳ này, độ cao của nhà ở, bề rộng các đờng
đi lại trong thành đều đợc quy định và tiêu chuẩn hoá, những ngời đem bán loại
thực phẩm giả mạo, thức ăn ôi thiu đều phải chịu tội.
Theo thời gian, cùng với sự phát triển của xã hội, dân số, ô nhiễm môi tr
ờng và
phòng chống ô nhiễm môi trờng càng đợc tăng cờng và phát triển. Nh chúng ta
đã biết, các nhân tố sinh học, các hoá chất tồn tại một cách tự nhiên và các nguy cơ

vật lý đã tồn tại trong suốt quá trình phát triển của lịch sử loài ngời. Đồng thời các
chất ô nhiễm môi trờng do hoạt động của con ngời sinh ra cũng có quá trình phát
triển từ từ và lâu dài.
Cuộc khủng hoảng môi trờng lần thứ nhất xuất hiện ở Châu Âu lần đầu tiên vào
thế kỷ 19, nguyên nhân là do thực phẩm kém chất lợng, nớc bị ô nhiễm ảnh hởng
đến sức khoẻ cộng đồng. Cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh đã làm cho nớc Anh
trở thành xứ sở sơng mù do ô nhiễm không khí, thời gian này vấn đề ô nhiễm công
nghiệp là một vấn đề hết sức nghiêm trọng nhng bị chính phủ lờ đi vì còn nhiều vấn
đề xã hội khác quan trọng hơn, mặc dù năm 1848 Quốc hội Anh đã thông qua Luật Y
tế công cộng đầu tiên trên thế giới. Trong quá trình phát triển công nghiệp, ô nhiễm
kéo dài cho đến giữa thế kỷ 20 và hàng loạt những ô nhiễm mới song song với ô

11
nhiễm công nghiệp là ô nhiễm hoá học, hoá chất tổng hợp, nhất là trớc và sau chiến
tranh thế giới lần thứ 2. Những tiến bộ của kỹ thuật, lĩnh vực hoá học, đặc biệt là
ngành công nghiệp hoá chất đã tạo ra các hoá chất tổng hợp nh cao su tổng hợp,
nhựa, các dung môi, thuốc trừ sâu v.v… đã tạo ra rất nhiều chất khó phân huỷ và tồn
d lâu dài trong môi trờng nh DDT, 666, dioxin v.v… gây ra ô nhiễm môi trờng
nặng nề, dẫn tới sự phản đối kịch liệt của cộng đồng nhiều nớc trên thế giới trong
suốt thời kỳ những năm 60 và 70 của thế kỷ 20 (xem hộp 1.1).
Hộp 1.1. Các ví dụ về những sự kiện sức khỏe môi trờng quan trọng
1798 – Thomas Malthus xây dựng lý thuyết về phân bố tài nguyên và dân số
1848 – Quốc hội Anh thông qua Luật Y tế công cộng
1895 – Svante Arrhenius mô tả hiện tợng hiệu ứng nhà kính
1899 – Hiệp định Quốc tế đầu tiên về cấm vũ khí hoá học
1956 – Anh thông qua Luật Không khí sạch
1962 – Việc xuất bản cuốn sách Mùa xuân lặng lẽ (silent spring) của Rachel Carson đã thu
hút đợc sự chú ý tới vấn đề thuốc trừ sâu và môi trờng
1969 – Hiệp định quốc tế đầu tiên về hợp tác trong trờng hợp ô nhiễm biển (vùng biển phía
Bắc)

1972 – Hội nghị của Liên hiệp quốc về Môi trờng và Con ngời, Stockholm; DDT đã bị cấm
sử dụng ở Mỹ
1982 – Hội nghị đa phơng về sự acid hoá môi trờng đã khởi đầu quá trình dẫn tới chính
thức thừa nhận vấn đề ô nhiễm xuyên biên giới và nhu cầu về sự kiểm soát quốc tế
1986 – Hội nghị quốc tế đầu tiên về nâng cao sức khoẻ (health promotion) thông qua Hiến
chơng Ottawa, trong đó định nghĩa nâng cao sức khoẻ là tạo điều kiện cho con
ngời kiểm soát những yếu tố quyết định tới sức khoẻ của họ.
1987 – Báo cáo của Uỷ ban Brundtland “Tơng lai chung của chúng ta” (Our Common
Future) đã kêu gọi hớng tới “phát triển bền vững”; Nghị định th Montreal về hạn
chế phát thải clorofluorocarbon (CFC) vào không khí để giảm tốc độ suy giảm tầng
ozon ở tầng bình lu
1992 – Hội nghị thợng đỉnh trái đất (Hội nghị của Liên hiệp quốc về Môi trờng và phát
triển), Rio de Janeiro
1994 – Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển, Cairo
1995 – Hội nghị Thợng đỉnh của Liên hiệp quốc về Phát triển xã hội, Copenhagen
1996 – Hội nghị của Liên hiệp quốc về vấn đề định c (HABITAT II), Istanbul
1997 – Hiệp định khung của Liên hiệp quốc về thay đổi khí hậu, Kyoto
Nguồn: Yassi và cộng sự, 2001
Làn sóng lần thứ hai về các vấn đề môi trờng xảy ra vào những năm giữa của
thế kỷ 20 với hai phong trào lớn là môi trờng và sinh thái. Phong trào môi trờng là
việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là những tài nguyên không tái tạo. Kết quả là

12
động vật trên đất liền ở nhiều vùng thiên nhiên hoang dã, các vùng đất, biển quý hiếm
khác, cảnh quan thiên nhiên đợc bảo tồn và tôn tạo. Về phong trào sinh thái tập trung
vào các chất có thể gây độc cho con ngời hoặc có khả năng gây huỷ hoại môi trờng.
Kết quả của những phong trào này cùng với Hội nghị của Liên hợp quốc về môi
trờng và con ngời đã đợc tổ chức vào năm 1972 đã thuyết phục đợc nhiều chính
phủ các nớc thông qua luật lệ nhằm hạn chế ô nhiễm công nghiệp và phát thải rác,
phòng chống ô nhiễm hoá học, đảm bảo chất lợng và vệ sinh an toàn thực phẩm,

thuốc, v.v…
Làn sóng lần thứ ba về các vấn đề sức khoẻ môi trờng là từ những năm 80, 90
đến nay, ngoài những vấn đề ô nhiễm công nghiệp, hoá chất còn có các vấn đề về
dioxyd carbon, clorofluorocarbon gây thủng tầng ozon, vấn đề cân bằng môi trờng,
phát triển bền vững, môi trờng toàn cầu thay đổi, khí hậu toàn cầu nóng lên, v.v… sẽ
còn phải giải quyết trong nhiều thập kỷ tới.
3. NộI DUNG MÔN SứC KHOẻ MÔI TRƯờNG
Tất cả các khía cạnh của sức khoẻ môi trờng là xác định, giám sát, kiểm soát
các yếu tố vật lý, hoá học, sinh học và xã hội có ảnh hởng đến sức khoẻ con ngời.
Thực hành sức khoẻ môi trờng bao gồm: đánh giá, kiểm soát và phòng ngừa
các yếu tố trong môi trờng ảnh hởng tiêu cực đến sức khoẻ con ngời, đồng thời
phát huy các yếu tố môi trờng có lợi cho sức khoẻ. Việc này bao gồm tất cả các biện
pháp cần thiết để đối mặt với các vấn đề: nh suy thoái môi trờng, thay đổi khí hậu,
các nguy cơ môi trờng (nh: ô nhiễm đất, nớc, không khí, ô nhiễm thực phẩm), tiếp
xúc với hoá chất và vấn đề rác thải hiện nay. Thực hành sức khoẻ môi trờng còn tạo
điều kiện, cơ hội để nâng cao sức khoẻ bằng cách lập kế hoạch nâng cao sức khoẻ và
tiến tới xây dựng một môi trờng có lợi cho sức khoẻ. Các hoạt động sức khoẻ môi
trờng đợc thực hiện ở tất cả các cấp, bao gồm:
Xây dựng, phát triển các chiến lợc và tiêu chuẩn, gồm:
+ An toàn dân số.
+ T vấn cộng đồng, bảo vệ sức khoẻ trong các trờng hợp khẩn cấp.
+ Theo dõi, quan trắc và xây dựng các tiêu chuẩn nh tiêu chuẩn về nhà ở v.v…
+ Nâng cao phát triển sức khoẻ.
Phát triển và đa ra các khuyến cáo về sức khoẻ môi trờng:
+ Cung cấp thông tin cho cộng đồng về sức khoẻ môi trờng.
+ Nghiên cứu sức khoẻ môi trờng.
+ Giáo dục sức khoẻ môi trờng.
Cần phải có kế hoạch xây dựng luật sức khoẻ môi trờng.

13
Quản lý môi trờng vật lý:
+ An toàn nớc, nhất là an toàn nớc ở khu giải trí.
+ An toàn thực phẩm.
+ Quản lý chất thải rắn.
+ An toàn và sức khoẻ nghề nghiệp.
+ Phòng chống chấn thơng.
+ Kiểm soát tiếng ồn.
+ Sức khoẻ và chất phóng xạ.
Quản lý nguy cơ sinh học:
+ Kiểm soát côn trùng và các động vật có hại.
+ Quản lý bệnh truyền nhiễm qua vật chủ trung gian truyền bệnh.
+ Kiểm soát vi sinh vật.
Quản lý nguy cơ hoá học:
+ Xây dựng các tiêu chuẩn an toàn hoá học cho không khí, đất, nớc sinh
hoạt, nớc thải và thực phẩm.
+ Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn.
+ Đánh giá và quản lý các nguy cơ sức khoẻ ở các vùng bị ô nhiễm ví dụ
nh dioxin, v.v…
+ Kiểm soát thuốc, chất độc, các sản phẩm y dợc khác.
+ Chất độc học.
+ Kiểm soát thuốc lá.
Bên cạnh đó còn nhiều các yếu tố khác cần phải kiểm soát nh: cung cấp đủ
thức ăn dinh dỡng, cung cấp nớc sạch, điều kiện vệ sinh và xử lý rác thải nhất là ở
nông thôn hiện nay, cung cấp nhà ở và bảo đảm mật độ dân số v.v…
Ngoài ra, còn một số các yếu tố khác nhất là khả năng tiềm tàng của các nguy
cơ môi trờng và suy thoái môi trờng tác động lên sức khoẻ do các đặc điểm sau:

Thờng xảy ra sau một thời gian dài tiếp xúc.
Các bệnh liên quan đến môi trờng thờng do hoặc liên quan đến nhiều nguyên

nhân khác nhau, ví dụ nh viêm phế quản mạn tính có thể là do môi trờng bị ô
nhiễm, do vi khuẩn, thể lực v.v.
Thực hành sức khoẻ môi trờng sử dụng kiến thức và kỹ năng của nhiều lĩnh vực
khác nhau để tập trung giải quyết các vấn đề sức khoẻ tiềm tàng.

14
Loài ngời là trung tâm của phát triển bền vững. Họ có quyền sống một cuộc
sống khoẻ mạnh và hoà hợp với tự nhiên.
(Tuyên bố Rio de Janero về Môi trờng và Phát triển)
4. QUAN Hệ GIữA SứC KHOẻ Và MÔI TRƯờNG
Khi con ngời đầu tiên xuất hiện trên trái đất, tuổi thọ trung bình của họ chỉ
khoảng từ 30 đến 40 tuổi. Do sống trong môi trờng khắc nghiệt, tuổi thọ của họ thấp
hơn nhiều so với tuổi thọ của con ngời trong xã hội hiện nay. Tuy vậy, 30 – 40 năm
cũng đủ để cho họ có thể sinh con đẻ cái, tự thiết lập cho mình cuộc sống với t cách
là một loài có khả năng cao nhất trong việc làm thay đổi môi trờng theo hớng tốt
lên hay xấu đi.
Để có thể sống sót, những ngời tiền sử phải đối mặt với những vấn đề sau đây:
Luôn phải tìm kiếm nguồn thức ăn và nớc uống trong khi tránh ăn phải những
thực vật có chứa chất độc tự nhiên (ví dụ nấm độc) hoặc các loại thịt đã bị ôi thiu,
nhiễm độc.
Bệnh nhiễm trùng và các ký sinh trùng đợc truyền từ ngời này sang ngời
khác hoặc từ động vật sang con ngời thông qua thực phẩm, nớc uống hoặc các côn
trùng truyền bệnh.
Chấn thơng do ngã, hoả hoạn hoặc động vật tấn công.
Nhiệt độ quá nóng hoặc quá lạnh, ma, tuyết, thảm hoạ thiên nhiên (nh bão lụt,
hạn hán, cháy rừng v.v.) và những điều kiện khắc nghiệt khác.
Những mối nguy hiểm đối với sức khoẻ con ngời luôn luôn xảy ra trong môi
trờng tự nhiên. Trong một số xã hội, những mối nguy hiểm truyền thống trên đây vẫn
là những vấn đề sức khoẻ môi trờng đợc quan tâm nhiều. Tuy nhiên, khi con ngời
đã kiểm soát đợc những mối nguy hiểm này ở một số vùng, thì những mối nguy hiểm

hiện đại do sự phát triển kỹ thuật, công nghiệp tạo ra cũng đã trở thành những mối đe
dọa đầu tiên đối với sức khoẻ và sự sống của con ngời. Một số ví dụ về các mối nguy
hiểm môi trờng hiện đại là:
Môi trờng đất, nớc ở nông thôn bị ô nhiễm nghiêm trọng do sử dụng hóa chất
bảo vệ thực vật không đúng chủng loại, liều lợng và không đúng cách.
Các sự cố rò rỉ các lò phản ứng hạt nhân/nhà máy điện nguyên tử, v.v…
Sự thay đổi khí hậu toàn cầu, hiệu ứng nhà kính, v.v…
Trong một vài thập kỷ vừa qua, tuổi thọ của con ngời đã tăng lên đáng kể ở hầu
hết các quốc gia. Các nhà điều tra cho rằng có 3 lý do cơ bản dẫn tới việc tăng tuổi thọ
của con ngời:
+ Những tiến bộ trong môi trờng sống của con ngời.
+
Những cải thiện về vấn đề dinh dỡng.
+ Những tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị y học đối với các loại bệnh tật.

15
Những tiến bộ trong y tế luôn đi cùng với với những cải thiện về chất lợng môi
trờng, dinh dỡng và chăm sóc y tế. Ngày nay, những ngời ốm yếu có cơ hội sống
sót cao hơn nhiều do hệ thống chăm sóc y tế đợc cải thiện. Rất nhiều ngời luôn
sống khoẻ mạnh, do có nguồn dinh dỡng tốt và kiểm soát tốt các mối nguy hiểm về
sức khoẻ môi trờng.
Khoa học môi trờng là một môn học rất cần thiết và quan trọng dựa trên hai lý
do căn bản sau đây:
+ Nghiên cứu những mối nguy hiểm trong môi trờng và những ảnh hởng
của chúng lên sức khoẻ.
+ ứng dụng những phơng pháp hiệu quả để bảo vệ con ngời khỏi những
mối nguy hại từ môi trờng.
Muốn vậy chúng ta hãy xem xét thế nào là sức khoẻ và thế nào là môi trờng?
Trớc hết chúng ta hãy điểm qua vài nét về hệ sinh thái:
Ra đời từ những năm 1930, thuật ngữ hệ sinh thái có thể đợc định nghĩa nh là

một hệ thống gồm những mối quan hệ tơng tác qua lại giữa các sinh vật sống và môi
trờng tự nhiên của chúng. Đó là một thực thể đóng đã đạt đợc các cơ chế tự ổn định
và nội cân bằng, đã tiến hoá qua hàng thế kỷ. Trong một hệ sinh thái ổn định, một loài
này không loại trừ một loài khác, nếu không thì nguồn cung cấp thức ăn cho những
loài ăn thịt sẽ không tồn tại. Các hệ sinh thái ổn định và cân bằng sẽ có tuổi thọ cao
nhất. Một hệ sinh thái sẽ không thể duy trì đợc một số lợng lớn vật chất và năng
lợng đợc tiêu thụ bởi một loài mà lại không loại trừ một loài khác và thậm chí còn
gây nguy hiểm cho khả năng tồn tại của toàn bộ hệ sinh thái. Tơng tự nh vậy, khả
năng của một hệ sinh thái trong việc chứa đựng chất thải và tái tạo đất, nớc ngọt
không phải là vô hạn. Tại một thời điểm nào đó, những tác động từ bên ngoài sẽ phá
vỡ cân bằng của hệ sinh thái, dẫn đến sự thay đổi nhanh chóng hoặc làm huỷ diệt hệ
sinh thái đó.
Định nghĩa sức khoẻ và môi trờng:
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (1946) thì sức khoẻ là trạng thái
thoải mái về cả tinh thần, thể chất và xã hội chứ không chỉ đơn thuần là vô bệnh, tật.
Khái niệm bệnh, tàn tật và tử vong dờng nh đợc các nhân viên y tế đề cập tới nhiều
hơn so với khái niệm lý tởng này về sức khoẻ. Do vậy khoa học sức khoẻ hầu nh đã
trở thành khoa học bệnh tật, vì nó tập trung chủ yếu vào việc điều trị các loại bệnh và
chấn thơng chứ không phải là nâng cao sức khoẻ.
Tơng tự nh vậy, nhiều định nghĩa về môi trờng trong bối cảnh sức khoẻ đã
đợc đề cập. Theo định nghĩa mới nhất (1995), môi trờng là tất cả những gì ở bên
ngoài cơ thể con ngời. Nó có thể đợc phân chia thành môi trờng vật lý, sinh học,
xã hội, văn hoá… Bất kỳ môi trờng nào hay tất cả các môi trờng trên đều có thể ảnh
hởng tới tình trạng sức khoẻ của quần thể. Định nghĩa này đợc dựa trên quan điểm

16
là sức khoẻ của con ngời chủ yếu đợc xác định do yếu tố di truyền và môi trờng.
Yếu tố di truyền (gen) do cha mẹ truyền lại, bao gồm ADN trong mỗi tế bào cơ thể.
Các gen này tồn tại khi phôi đợc hình thành và không có sự thay đổi nào về di truyền
trong suốt quá trình phát triển của con ngời. Nếu nh có sự thay đổi gen (nh trong

trờng hợp đột biến), nó có thể dẫn tới sự mất chức năng, chết tế bào và ung th (ở
một số trờng hợp đột biến cụ thể). Cơ sở vật chất di truyền của một cá thể là một
trong những yếu tố chính xác định việc cá thể đó bị ảnh hởng nh thế nào bởi các
yếu tố môi trờng. Một số cá thể sẽ bị ảnh hởng khi tiếp xúc với các chất độc hại,
các nguy hiểm môi trờng với hàm lợng lớn. Một số cá thể khác lại bị ảnh hởng ở
mức độ thấp hơn, bởi vì họ có các yếu tố nguy cơ / điều kiện kép hoặc nguy cơ / điều
kiện đã có từ trớc. Một số ngời bị ảnh hởng ở một mức độ rất thấp do tính nhạy
cảm di truyền. Điều đó minh chứng cho những ảnh hởng của môi trờng đối với sức
khoẻ. Tuy nhiên, đã một thời chính con ngời đã làm huỷ hoại và suy thoái môi
trờng. Vì suy thoái môi trờng nên có ảnh hởng tới sức khoẻ cộng đồng nh ung th
da tăng lên ở Australia khi tầng ozon bị suy giảm.
Con ngời đã phá rừng trong quá trình phát triển của mình và hậu quả là con
ngời phải chịu những hậu quả của lũ quét, của thay đổi khí hậu toàn cầu, của ô
nhiễm các chất thải công nghiệp.
Khi con ngời huỷ hoại môi trờng thì theo quy luật nhân quả học, con ngời
cũng phải chịu những mối đe dọa từ môi trờng, đó là những mối nguy hiểm hiện đại
và truyền thống.
Khái niệm về sức khoẻ môi trờng:
Hiện nay trên thế giới, vẫn còn nhiều tranh cãi về các định nghĩa nh môi trờng
là gì? Sức khỏe môi trờng là gì. Đặc biệt việc phân biệt sự khác nhau giữa hai phạm
trù môi trờng và sức khỏe môi trờng là rất khó khăn. Sức khỏe môi trờng là một
thuật ngữ không dễ định nghĩa. Nếu chúng ta cho đó là Sức khỏe của môi trờng thì
dờng nh chúng ta không quan tâm tới một loài nào cụ thể, ví dụ loài ngời. Nhng
nếu một ai đó lại muốn định nghĩa thuật ngữ này ám chỉ tới sức khỏe con ngời thì
điều này lại còn quá nhiều chỗ để tranh cãi. Hai định nghĩa dới đây, định nghĩa đầu
tiên quan tâm tới những ảnh hởng của môi trờng lên sức khỏe trong khi định nghĩa
thứ hai quan tâm tới những dịch vụ sức khỏe môi trờng.
Định nghĩa 1: Sức khỏe môi trờng bao gồm những khía cạnh về sức khỏe con
ngời (bao gồm cả chất lợng cuộc sống), đợc xác định bởi các yếu tố vật lý, hóa
học, sinh học, xã hội và các yếu tố tâm lý trong môi trờng (theo định nghĩa trong

Chiến lợc Sức khỏe Môi trờng Quốc gia của Australia – 1999). Định nghĩa này cũng
ám chỉ tới cả lý thuyết và thực tiễn của việc quyết định, kiểm soát và phòng ngừa đối
với những yếu tố trên trong môi trờng, những yếu tố có thể có ảnh hởng tiềm tàng
bất lợi đối với sức khỏe của các thế hệ hiện tại cũng nh các thế hệ tơng lai.

17
Định nghĩa 2: Các dịch vụ sức khỏe môi trờng là những dịch vụ nhằm cải thiện
các chính sách về sức khỏe môi trờng qua các hoạt động giám sát, kiểm soát. Chúng
cũng thực hiện vai trò tăng cờng sự cải thiện những giới hạn của môi trờng và
khuyến khích việc sử dụng các công nghệ sạch và khuyến khích những thái độ cũng
nh những cách c xử tốt đối với môi trờng và sức khỏe. Những dịch vụ này cũng có
vai trò quan trọng trong việc phát triển và đề xuất những chính sách mới về sức khoẻ
môi trờng.
5. TáC ĐộNG CủA DÂN Số, ĐÔ THị HOá LÊN SứC KHOẻ CộNG ĐồNG Và MÔI
TRƯờNG
Những thách thức về dân số Việt Nam là rất nghiêm trọng đối với tất cả các vấn
đề môi trờng và tài nguyên thiên nhiên. Tăng dân số vẫn ở mức cao 1,7% (1999) và
di dân nội bộ từ các khu vực nghèo tài nguyên và kinh tế kém phát triển vẫn đang tăng
lên và không kiểm soát đợc. Theo dự báo đến năm 2020, dân số nớc ta xấp xỉ 100
triệu ngời, trong khi đó các nguồn tài nguyên đất, nớc và các dạng tài nguyên khác
có xu thế suy giảm, vấn đề nghèo đói ở các vùng sâu, vùng xa cha đợc giải quyết
triệt để (hiện cả nớc có 1750 xã ở diện đói nghèo). Quá trình đô thị hoá và phát triển
kinh tế bằng con đờng công nghiệp hoá đòi hỏi nhu cầu về năng lợng, nguyên liệu
ngày càng to lớn, kéo theo chất lợng môi trờng sống ngày càng xấu đi nếu không có
các biện pháp hữu hiệu ngay từ đầu. Mặt khác, quá trình đô thị hoá và công nghiệp
hoá ở nhiều khu vực, vùng lãnh thổ lại không đợc quán triệt đầy đủ theo quan điểm
phát triển bền vững, nghĩa là cha tính toán đầy đủ các yếu tố môi trờng trong phát
triển kinh tế xã hội. Theo dự kiến, tốc độ tăng trởng GDP phải đạt xấp xỉ 7%/năm và
đợc duy trì liên tục đến năm 2010. Theo tính toán của các chuyên gia nớc ngoài,
nếu GDP tăng gấp đôi thì nguy cơ chất thải tăng gấp 3 – 5 lần. Và nếu nh trình độ

công nghệ sản xuất, cơ cấu sản xuất, trình độ quản lý sản xuất, trình độ quản lý môi
trờng không đợc cải tiến thì sự tăng trởng sẽ kéo theo tăng khai thác, tiêu thụ tài
nguyên và năng lợng. Điều này dẫn đến khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, tạo ra
sự gia tăng các loại chất thải và ô nhiễm môi trờng gây nên sức ép cho môi trờng. Trong
khi đó môi trờng đô thị, công nghiệp và nông thôn tiếp tục bị ô nhiễm. Đến năm 1999,
dân đô thị là 23% so với dân số cả nớc, dự kiến năm 2010 là 33% và 2020 là 45%.
Môi trờng đô thị ở nớc ta bị ô nhiễm bởi các chất thải rắn, nớc thải ch
a
đợc thu gom và xử lý theo đúng quy định. Khí thải, bụi, tiếng ồn v.v… từ các phơng
tiện giao thông nội thị và mạng lới sản xuất quy mô vừa và nhỏ cùng với cơ sở hạ
tầng yếu kém càng làm cho điều kiện vệ sinh môi trờng ở nhiều đô thị đang thực sự
lâm vào tình trạng đáng báo động. Hệ thống cấp và thoát nớc lạc hậu, xuống cấp,
không đáp ứng đợc nhu cầu. Mức ô nhiễm không khí về bụi, các khí thải độc hại
nhiều nơi vợt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, nhất là tại các thành phố lớn nh Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh vợt tiêu chuẩn cho phép 2 – 3 lần.

18
Môi trờng nông thôn đang bị ô nhiễm do các điều kiện vệ sinh và cơ sở hạ tầng
yếu kém. Việc sử dụng không hợp lý các hoá chất nông nghiệp đã và đang làm cho
môi trờng nông thôn ô nhiễm và suy thoái. Việc phát triển các làng nghề tiểu thủ
công nghiệp đã làm ô nhiễm môi trờng nghiêm trọng. Nớc sinh hoạt và vệ sinh là
vấn đề cấp bách, tỷ lệ hố xí hợp vệ sinh ở nông thôn chỉ đạt khoảng 34% và chỉ
khoảng 46% số hộ dân nông thôn đợc dùng nớc hợp vệ sinh (Trung tâm Nớc sinh
hoạt và Vệ sinh nông thôn 2001). Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến
hết năm 2002, chỉ mới 50% số dân nông thôn đợc sử dụng nớc sạch.
Nạn khai thác rừng bừa bãi, thậm chí xảy ra ở cả các khu rừng cấm, rừng đặc
dụng; nạn đốt phá rừng đã gây ra những thảm hoạ cháy rừng nghiêm trọng nh vụ
cháy rừng nớc mặn U Minh vừa qua; đồng thời, việc săn bắt động vật hoang dã cũng
đang làm suy giảm đa dạng sinh học và gây huỷ hoại môi trờng. Những vấn đề của
môi trờng xã hội ngày càng trở nên bức xúc nh ma tuý, HIV/AIDS và bạo lực.

Những vấn đề môi trờng toàn cầu nh tầng ozon bị suy giảm, hiệu ứng nhà kính, khí
hậu toàn cầu nóng lên, thay đổi khí hậu, mực nớc biển dâng cao, hiện tợng En Ni-
nô; La Ni-na gây nên các hiện tợng hạn hán, lũ lụt xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới
trong đó có Việt Nam; đồng thời, nạn chuyển dịch ô nhiễm sang các nớc đang phát
triển cũng là một vấn đề cần chú trọng.
Từ những vấn đề trên thực tế đòi hỏi phải có một chính sách về môi trờng, sức
khoẻ môi trờng một cách đúng đắn, đồng bộ và hợp lý trong giai đoạn phát triển mới
của đất nớc ta.
6. NHữNG ĐịNH HƯớNG CƠ BảN CHO MÔI TRƯờNG LàNH MạNH
6.1. Bầu không khí trong sạch
Không khí rất cần thiết cho sự sống, nếu thiếu không khí, con ngời sẽ chết chỉ
sau một vài phút. Ô nhiễm không khí là một trong những vấn đề môi trờng trầm
trọng nhất trong các xã hội ở tất cả các cấp độ phát triển kinh tế khác nhau. Trên thế
giới, hàng ngày có khoảng 500 triệu ngời phải tiếp xúc với một hàm lợng lớn ô
nhiễm không khí trong nhà ở các dạng nh: khói từ các lò sởi không kín hoặc lò sởi
đợc thiết kế tồi và khoảng 1, 5 tỷ ngời ở các khu vực thành thị phải sống trong môi
trờng bị ô nhiễm không khí nặng nề (WHO, 1992). Sự phát triển của ngành công
nghiệp đi đôi với việc thải ra số lợng lớn các khí và các chất hạt từ quá trình sản xuất
công nghiệp và từ quá trình đốt cháy các nhiên liệu hoá thạch cho nhu cầu giao thông
vận tải và lấy năng lợng. Khi các tiến bộ công nghệ đã bắt đầu chú trọng đến việc
kiểm soát ô nhiễm không khí bằng cách giảm việc thải ra các chất hạt thì ngời ta vẫn
tiếp tục thải ra các chất khí, do vậy ô nhiễm không khí vẫn còn là vấn đề lớn. Mặc dù
hiện nay nhiều nớc phát triển đã có những nỗ lực lớn để kiểm soát cả việc thải khí và
các chất hạt, ô nhiễm không khí vẫn là nguy cơ đối với sức khoẻ của nhiều ngời.

19
ở những xã hội phát triển nhanh chóng, việc kiểm soát ô nhiễm không khí
không đợc đầu t thích hợp vì còn những u tiên khác về kinh tế và xã hội. Việc phát
triển công nghiệp nhanh chóng ở những nớc này đã xảy ra đồng thời với việc gia tăng
lợng ô tô và các loại xe tải khác, nhu cầu điện thắp sáng tại các hộ gia đình cũng

tăng lên, dân số tập trung ở các khu đô thị hoặc các thành phố lớn. Kết quả là một số
thảm hoạ ô nhiễm không khí tồi tệ nhất trong lịch sử thế giới đã xảy ra.
ở các quốc gia nơi mà việc sử dụng các nguồn năng lợng sạch ở các hộ gia
đình vẫn cha đợc chú trọng, ô nhiễm không khí đã trở thành một vấn đề trầm trọng
vì năng lợng dùng để sởi ấm và đun nấu còn thiếu và sản sinh ra rất nhiều khói, dẫn
đến ô nhiễm trong nhà và ngoài trời. Kết quả là con ngời có thể bị kích thích màng
nhầy, mắc các bệnh hô hấp, bệnh phổi, các vấn đề về mắt và tăng nguy cơ bị ung th.
Phụ nữ và trẻ em ở những cộng đồng nghèo khổ tại các nớc đang phát triển là những
ngời đặc biệt phải tiếp xúc nhiều với ô nhiễm không khí.
Chất lợng không khí trong nhà cũng là vấn đề nghiêm trọng ở nhiều nớc phát
triển vì các toà nhà đợc thiết kế theo kiểu kín gió và có hiệu quả cao về mặt năng
lợng. Hệ thống lò sởi và hệ thống làm lạnh, khói, hơi từ các vật liệu tích trữ trong
nhà tạo ra nhiều chất hoá học và gây ra ô nhiễm không khí.
6.2. Có đủ nớc sạch cho ăn uống và sinh hoạt
Nớc cũng rất cần thiết cho sự sống. Trung bình mỗi ngời cần phải uống tối
thiểu 2 lít nớc/ngày. Nếu sau 4 ngày không có nớc, con ngời sẽ chết. Nớc cũng
cần thiết cho thực vật, động vật và nông nghiệp. Trong suốt lịch sử phát triển, con
ngời luôn tập trung sống dọc theo các bờ sông, ven hồ để lấy nớc cho sinh hoạt và
nông nghiệp. Nớc cũng cung cấp phơng tiện vận chuyển tự nhiên, đợc sử dụng để
xử lý chất thải và đóng một vai trò quan trọng trong các ngành công nghiệp, ng
nghiệp và các trang trại. Mặc dù nớc ngọt đợc coi là một nguồn tài nguyên có thể
tái sử dụng, nhng nớc ngọt cũng không phải là một nguồn vô hạn. Hơn nữa, nớc
đợc phân bố không đồng đều ở các khu vực địa lý và dân c trên thế giới. Tại rất
nhiều nơi, việc thiếu nớc đã trở thành trở ngại lớn đối với việc phát triển công nghiệp
và nông nghiệp. Trong một số trờng hợp, việc thiếu nớc đã gây ra nhiều cuộc xung
đột (ví dụ: những xung đột tranh chấp nớc ngọt ở các nớc khu vực Trung Đông),
việc khan hiếm nớc dẫn đến đói nghèo và làm cằn cỗi đất đai. Rất nhiều thành phố
và các khu vực nông thôn đã khai thác nớc từ các tầng nớc ngầm với số lợng rất
lớn, lớn hơn cả khả năng mà bản thân các tầng nớc ngầm này có thể tự bổ sung lại
đợc.

Chất lợng của nớc ngọt có tầm quan trọng rất lớn trong việc duy trì sức khoẻ
con ngời. Rất nhiều bệnh truyền nhiễm đe doạ sự sống và sức khoẻ con ngời đợc
truyền qua nớc hoặc thực phẩm bị nhiễm bẩn. Khoảng 80% các bệnh tật ở các nớc
đang phát triển là do thiếu nớc sạch và thiếu các phơng tiện phù hợp để xử lý phân
(WHO, 1992). Có khoảng một nửa dân số trên thế giới mắc phải các bệnh do thiếu

20
nớc hoặc nớc bị nhiễm bẩn, gây ảnh hởng chủ yếu đối với tầng lớp ngời nghèo ở
tất cả các nớc đang phát triển. Có khoảng 2 tỷ ngời trên trái đất có nguy cơ mắc
phải các bệnh ỉa chảy lây lan qua đờng nớc hoặc thực phẩm, đây là nguyên nhân
chính gây ra tử vong khoảng gần 4 triệu trẻ em mỗi năm. Các vụ dịch tả thờng đợc
truyền qua nớc uống bị nhiễm bẩn, đang tăng lên nhanh chóng về mặt tần suất. Bệnh
sán máng (200 triệu ngời nhiễm bệnh) và bệnh giun (10 triệu ngời bị nhiễm bệnh)
là 2 dạng bệnh phổ biến trầm trọng nhất có liên quan tới nớc. Các vectơ côn trùng
sinh sản nhờ nớc cũng truyền các bệnh đe doạ sự sống của con ngời, chẳng hạn nh
sốt rét (267 triệu ngời bị nhiễm), giun chỉ (90 triệu ngời nhiễm), và sốt xuất huyết
(30 – 60 triệu ngời nhiễm) (WHO, 1992).
Việc thiếu nớc thờng dẫn đến các vấn đề có liên quan tới chất lợng nớc.
Nớc thải sinh hoạt, nớc thải công nghiệp – nông nghiệp và các khu đô thị đã làm
vợt quá khả năng của các vực nớc tự nhiên trong việc phân huỷ các chất thải có khả
năng phân huỷ sinh học và hoà tan các chất thải không có khả năng phân huỷ sinh
học. Ô nhiễm nớc xảy ra trầm trọng nhất ở các thành phố nơi mà việc kiểm soát các
dòng thải công nghiệp không chặt chẽ và thiếu các ống, rãnh dẫn nớc thải, thiếu các
nhà máy xử lý nớc thải.
6.3. Đủ thực phẩm và thực phẩm an toàn
Thực phẩm cung cấp năng lợng cho cơ thể con ngời. Tuỳ vào trọng lợng cơ
thể và các hoạt động về thể lực mà cơ thể con ngời cần khoảng 1000-2000 calo năng
lợng mỗi ngày. Nếu nh không có thực phẩm, con ngời sẽ chết sau 4 tuần. Thực
phẩm cũng cung cấp các vitamin và các chất vi lợng, nếu không có các chất này, con
ngời cũng sẽ mắc một số bệnh thiếu hụt.

Trong vài thập kỷ vừa qua, hệ thống sản xuất lơng thực của thế giới đã đáp ứng
đủ so với nhu cầu tăng trởng dân số (hình 1.3). Tuy nhiên, những thành công trong
nông nghiệp toàn cầu cũng không đợc phân bố đồng đều, ví dụ: các nớc châu á và
châu Mỹ La Tinh đã tăng sản lợng lơng thực trên đầu ngời một cách đáng kể,
nhng sản lợng lơng thực của các nớc châu Phi vẫn cha theo kịp đợc mức tăng
trởng dân số của họ; các nớc thuộc Liên Xô cũ cũng đã giảm sút sản lợng lơng
thực một cách đáng kể. Đối với phần lớn dân số trên thế giới, suy dinh dỡng và các
bệnh liên quan tới suy dinh dỡng vẫn còn là một nguyên nhân chính gây ra tình trạng
ốm yếu và chết yểu. Các tác nhân gây bệnh qua thực phẩm gây ra hàng triệu ca ỉa
chảy mỗi năm, bao gồm cả hàng nghìn ngời ở những nớc phát triển. Việc phân bố
và sử dụng thức ăn không hợp lý là thủ phạm chính gây ra các ca bệnh này. Việc suy
thoái đất và cạn kiệt các nguồn nớc một cách nhanh chóng cũng tạo ra mối đe doạ
nguy hiểm đối với việc sản xuất lơng thực trong tơng lai.

21

Hộp 1.2. Khái niệm môi trờng hỗ trợ sức khỏe
Trong khái niệm môi trờng hỗ trợ sức khoẻ, ngời ta bàn tới các yếu tố quyết định sức
khoẻ của toàn bộ quần thể, bao gồm các yếu tố sau:
Vai trò của các yếu tố môi trờng địa phơng trong sự phát triển lành mạnh của một
cộng đồng
Một cách tiếp cận tạo điều kiện nâng cao sức khoẻ cũng nh bảo vệ khỏi tiếp xúc với
các yếu tố nguy cơ môi trờng
Xây dựng công bằng trong y tế đối với một cộng đồng
Tầm quan trọng của phát triển bền vững nh là một vấn đề sức khoẻ
Tầm hiểu biết của con ngời về môi trờng trên một diện rộng
Nhận thức của con ngời về sự quan tâm và tham gia của cá nhân nhằm duy trì hoặc
tạo ra một môi trờng lành mạnh
Nguồn: Haglund và cộng sự, 1992.

7. TổNG QUAN Về CHíNH SáCH Và QUảN Lý SứC KHOẻ MÔI TRƯờNG
7.1. Tình hình thực hiện chính sách và quản lý môi trờng
Về chính sách bảo vệ môi trờng: vào những năm 80, lần đầu tiên các nhà khoa
học đã đa ra dự thảo chiến lợc bảo vệ môi trờng quốc gia. Tháng 12/1992, Hội
nghị Quốc tế về Môi trờng và Phát triển bền vững đã thông qua kế hoạch 10 năm về
môi trờng, đây đợc coi nh một chiến lợc quốc gia về môi trờng cho giai đoạn
1991 – 2000. Trên cơ sở đó, nhiều chính sách, văn bản pháp luật, hàng loạt các hoạt
động về quản lý môi trờng đã đợc ban hành nh Luật Bảo vệ Môi trờng (1993),
Nghị định 175/CP về “Hớng dẫn thi hành luật bảo vệ môi trờng”, Nghị định 26/CP
về ” Xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trờng”. Đặc biệt năm 1998, Bộ
chính trị Ban chấp hành Trung ơng Đảng đã ban hành Chỉ thị 36/CT-TW về ” Tăng
cờng công tác bảo vệ môi trờng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nớc”. Hệ thống quản lý nhà nớc về bảo vệ môi trờng từ trung ơng đến địa phơng
đã đợc hình thành và đi vào hoạt động nề nếp. Những điều này đã góp phần không
nhỏ ngăn chặn ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trờng, góp phần cải thiện đáng kể
chất lợng môi trờng ở nớc ta.
Về chính sách quản lý sức khoẻ môi trờng, trong thời gian qua, ngành y tế đã
có một số những chính sách, chiến lợc riêng lẻ cho những hoạt động về sức khoẻ môi
trờng nh quản lý chất lợng vệ sinh và an toàn thực phẩm (Cục Quản lý chất lợng
Vệ sinh – An toàn thực phẩm, Viện Dinh dỡng,…), những chính sách về vệ sinh học
đờng, xây dựng các chỉ số đánh giá chất lợng nớc sinh hoạt, xây dựng tiêu chuẩn
về vệ sinh lao động và xác định những bệnh nghề nghiệp v.v… Một vấn đề cơ bản là

22
ngành y tế đã có một hệ thống hoàn chỉnh, hoạt động có hiệu quả từ trung ơng đến
địa phơng, đó là hệ thống y học dự phòng, các hoạt động về sức khoẻ môi trờng đều
thông qua hệ thống này. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc thực thi các chính sách và
chiến lợc về sức khoẻ môi trờng. Tuy nhiên, cho đến nay chúng ta cha có một hội
nghị nào có tầm cỡ quốc gia bàn về chiến lợc, các chính sách riêng, cụ thể cho sức

khoẻ môi trờng bởi lẽ chúng ta cũng cha ra đợc một định nghĩa rõ ràng hay một
khái niệm cụ thể về sức khoẻ môi trờng ở Việt Nam. Đây là một vấn đề trong thời
gian tới các cấp, các cơ sở y tế trong toàn quốc cần phải quan tâm và tiến hành. Cơ
quan giữ vai trò quan trọng trong việc này là Vụ Y tế Dự phòng – Bộ Y tế trong việc
phối hợp với ngành môi trờng cần đề nghị Chính phủ để có một Hội nghị quốc gia
bàn về chính sách và chiến lợc quốc gia về sức khoẻ môi trờng.
7.2. Thực trạng và chiến lợc về sức khoẻ môi trờng
Tuy Việt Nam đã đạt nhiều kết quả về bảo vệ môi trờng, tránh hiệu quả xấu tác
động lên sức khoẻ con ngời, nhng còn nhiều vấn đề bất cập trong quản lý môi
trờng và sức khoẻ môi trờng nh: quy hoạch môi trờng cha lồng ghép với phát
triển kinh tế – xã hội, giáo dục – đào tạo, nâng cao nhận thức môi trờng, quy hoạch
phát triển đô thị, quy hoạch quản lý tổng thể rừng, vùng ven biển, bảo tồn đa dạng
sinh học, v.v…. Hệ thống tổ chức quản lý, cơ chế và chính sách còn nhiều hạn chế.
Kinh phí ít, đầu t dàn trải nên kết quả nhiều khi không thấy rõ ràng, làm cho cộng
đồng dân c thay đổi nhận thức còn quá chậm, làm cho môi trờng và sức khoẻ môi
trờng hiện tại còn nhiều điều cần bàn.
7.2.1. Thực trạng
a. Môi trờng tiếp tục xuống cấp
Rừng tiếp tục bị suy thoái.
Đa dạng sinh học trên đất liền và dới biển tiếp tục bị suy giảm.
Chất lợng các nguồn nớc tiếp tục xuống cấp.
Môi trờng đô thị và công nghiệp tiếp tục bị ô nhiễm.
Chất lợng môi trờng nông thôn có xu hớng xuống cấp nhanh.
Môi trờng lao động ngày càng bị nhiễm độc.
Sự cố môi trờng gia tăng mạnh.
Môi trờng xã hội: phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng, tệ nạn xã hội, v.v….
b. Tác động của môi trờng toàn cầu
Vấn đề môi trờng của lu vực Sông Mê Kông và Sông Hồng.
Vấn đề môi trờng của các rừng chung biên giới.

23
Vấn đề ma acid.
Vấn đề ô nhiễm tầng khí quyển, hiệu ứng nhà kính và suy giảm tầng ozon, hậu
quả của vấn đề này gây ra:
+ Sự thay đổi khí hậu của trái đất đẫn đến sự mất cân bằng của hệ sinh thái.
+ Mực nớc biển dâng cao do nhiệt độ trái đất tăng.
+ Hiện tợng En Ni-nô và La Ni-na làm gia tăng ma bão và hạn hán
nghiêm trọng.
+ Vấn đề ô nhiễm biển và đại dơng.
+ Vấn đề chuyển dịch ô nhiễm.
c. Thách thức của môi trờng nớc ta trong thời gian tới
Xu thế suy giảm chất lợng môi trờng tiếp tục gia tăng.
Tác động của các vấn đề môi trờng toàn cầu ngày càng mạnh và phức tạp hơn.
Gia tăng dân số và di dân tự do tiếp tục gây áp lực lên môi trờng.
Tăng trởng nhanh về kinh tế cùng với việc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nớc đã và đang tác động mạnh lên môi trờng.
Hội nhập quốc tế, du lịch và tự do hoá thơng mại toàn cầu sẽ gây ra nhiều tác
động phức tạp về mặt môi trờng.
Nhận thức về môi trờng và phát triển bền vững còn thấp kém.
Năng lực quản lý môi trờng và sức khoẻ môi trờng cha đáp ứng yêu cầu.
Mẫu hình tiêu thụ lãng phí hay khát tiêu dùng.
7.2.2. Chiến lợc
Phòng ngừa ô nhiễm.
Bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học
Cải thiện môi trờng tự nhiên và xã hội.
7.2.3. Giải pháp
Tăng cờng giáo dục và nâng cao nhận thức về môi trờng và sức khoẻ môi trờng.
Tăng cờng vai trò sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp, t nhân trong bảo
vệ môi trờng.
Tăng cờng và đa dạng hoá đầu t bảo vệ môi trờng.

Tăng cờng năng lực quản lý nhà nớc về môi trờng và sức khoẻ môi trờng.
Mở rộng hợp tác quốc tế và thu hút tài trợ nớc ngoài.
Kết hợp chiến lợc bảo vệ môi trờng quốc gia với chiến lợc phát triển kinh tế – xã hội.
Cần có một chiến lợc quốc gia về sức khoẻ môi trờng.

24
Chủ biên : PGS. TS. Nguyễn Văn MạnTh ký biên soạn : CN. Trần Thị Tuyết HạnhCN. Nguyễn Hữu ThắngThS. Vũ Thị Thu NgaThS. Nguyễn Ngọc BíchNhững ngời biên soạn : PGS. TS. Bùi Thanh TâmPGS. TS. Nguyễn Văn MạnPGS. TS. Đặng Đức PhúGS. TS. Trơng Việt DũngTS. Nguyễn Huy NgaPGS. TS. Lê Đình MinhPGS. TS. Lu Đức HảiThS. Lê Thị Thanh HơngThS. Nguyễn Trinh HơngTham gia tổ chức triển khai bản thảo : ThS. Phí Nguyệt Thanh và nhóm th kýBản quyền thuộc Bộ Y tế ( Vụ khoa học và Đào tạo ) Lời nói đầuThực hiện Nghị định 43/2000 / NĐ-CP ngày30 / 8/2000 của nhà nước quy địnhchi tiết và hớng dẫn tiến hành Luật Giáo dục đào tạo, Bộ Giáo dục đào tạo và Đào tạo và Bộ Y tế đãphê duyệt, phát hành chơng trình khung cho huấn luyện và đào tạo cử nhân y tế công cộng. Bộ Y tếtổ chức biên soạn bộ tài liệu dạy – học những môn học cơ sở và trình độ theo chơngtrình mới nhằm mục đích từng bớc thiết kế xây dựng bộ sách chuẩn trong công tác làm việc giảng dạy cử nhân y tếcông cộng. Sức khỏe môi trờng là tài liệu đã đợc biên soạn theo chơng trình giáodục của Trờng Đại học Y tế công cộng trên cơ sở chơng trình khung đã đợc phêduyệt. Năm 2005, cuốn sách này đợc Hội đồng trình độ đánh giá và thẩm định sách giáokhoa và tài liệu dạy – học của Bộ Y tế thẩm định và đánh giá. Bộ Y tế thống nhất sử dụng làm tàiliệu dạy – học chính thức của ngành trong quá trình lúc bấy giờ. Trong thời hạn từ 3 đến5 nam sách cần đợc chỉnh lý, bổ trợ và update. Nội dung sách Sức khỏe môi trờng đã bám sát đợc những nhu yếu về kiến thức và kỹ năng cơbản, đúng chuẩn khoa học, update và thực tiễn của Nước Ta nhằm mục đích cung ứng cho sinhviên những kỹ năng và kiến thức cơ bản về sức khỏe môi trờng, những yếu tố cấp bách về sứckhỏe môi trờng lúc bấy giờ ở Nước Ta và những yếu tố rủi ro tiềm ẩn cho sức khỏe môi trờng. Sách dùng để huấn luyện và đào tạo cử nhân y tế công cộng, đồng thời cũng là tài liệu tìm hiểu thêm tốtcho sinh viên những chuyên ngành khác và những cán bộ y tế chăm sóc đến nghành nghề dịch vụ sứckhỏe môi trờng. Vụ Khoa học và Đào tạo, Bộ Y tế xin chân thành cảm ơn những giảng viên TrờngĐại học Y tế công cộng tích cực tham gia biên soạn cuốn sách này. Đây là lĩnh vựckhoa học mới tăng trưởng nên những nội dung biên soạn không tránh khỏi những thiếu sótvà cần đợc bổ trợ update. Vụ Khoa học và Đào tạo mong nhận đợc nhiều ý kiếnđóng góp của fan hâm mộ và đồng nghiệp để cuốn sách ngày càng hoàn thành xong hơn. Vụ Khoa học và Đào tạoBộ Y tếMục lụcPHầN 1. Dành cho cử nhân y tế công cộng năm thứ 2B ài 1. Nhập môn Sức khoẻ môi trờng 9PGS. TS. Đặng Đức Phú – ThS. Lê Thị Thanh HơngBài 2. Quản lý rủi ro tiềm ẩn từ môi trờng 26GS. TS. Trơng Việt DũngBài 3. Cơ sở sinh thái học của sức khoẻ và bệnh tật 58PGS. TS. Nguyễn Văn Mạn ThS. Lê Thị Thanh HơngBài 4. Ô nhiễm không khí 86T hS. Nguyễn Trinh Hơng – ThS. Lê Thị Thanh HơngBài 5. Quản lý chất thải rắn và chất thải y tế 110TS. Nguyễn Huy Nga – ThS. Lê Thị Thanh HơngBài 6. Nớc và vệ sinh nớc 141PGS. TS. Lê Đình MinhPHầN 2. Dành cho cử nhân y tế công cộng năm thứ 3B ài 7. An toàn môi trờng 169PGS. TS. Bùi Thanh TâmBài 8. Kiểm soát véc-tơ truyền bệnh 183PGS. TS. Nguyễn Văn MạnBài 9. Phát triển bền vững201PGS. TS. Lu Đức HảiBài 10. Quản lý sức khoẻ môi trờng 222GS. TS. Trơng Việt DũngPhÇn 1D µnh cho cö nh © n y tÕ c « ng céngn ¨ m thø 2B àI 1NH ậP MÔN SứC KHOẻ MÔI TRƯờNGMụC TIÊU1. Trình bày đợc những thành phần chính của môi trờng. 2. Nêu đợc những góc nhìn lịch sử dân tộc của sức khoẻ môi trờng. 3. Trình bày đợc mối quan hệ giữa sức khoẻ và môi trờng, những chủ trương về sứckhoẻ môi trờng và quản trị môi trờng. 4. Giải thích đợc những yếu tố sức khoẻ môi trờng mang tính cấp bách ở địaphơng và trên quốc tế. Sức khoẻ môi trờng là nền tảng của y tế công cộng, phân phối rất nhiều lý luậncơ bản nền tảng cho một xã hội văn minh. Quá trình cải tổ thực trạng vệ sinh, chấtlợng nớc uống, vệ sinh và bảo đảm an toàn thực phẩm, trấn áp bệnh tật và cải tổ điềukiện nhà tại là trách nhiệm TT của quy trình triển khai việc nâng cao chất lợngcuộc sống và liên tục những kinh nghiệm tay nghề quý báu của cả thế kỷ qua. Tuy nhiên, hiệnnay đời sống của ngời dân trong thời kỳ thay đổi có nhiều đổi khác : việc đô thị hoá, tăng dân số, biến hóa lối sống, nạn phá rừng, tăng sử dụng hoá chất bảo vệ thực vậttrong nông nghiệp, dùng những hormon tăng trởng trong chăn nuôi, sự tăng trưởng côngnghiệp và không trấn áp đợc những chất thải công nghiệp, …. làm cho môi trờngđang bị suy thoái và khủng hoảng. Trong những năm qua, thảm họa vạn vật thiên nhiên đã gây nên nhiều thiệthại lớn nh lũ quét ở Lai Châu, Sơn La ; úng lụt ở Đồng bằng Sông Cửu Long ; hạn hánở nhiều nơi nh Tây Nguyên. Hiện nay, những trờng hợp bị nhiễm độc hoá chất, ngộđộc những hoá chất bảo vệ thực vật và ngộ độc thực phẩm vẫn xảy ra thờng xuyên. Cónhiều thông tư và nghị quyết bàn về phơng hớng tăng trưởng bền vững và kiên cố, nghĩa là bảođảm cho môi trờng và môi sinh trong sáng, giảm thiểu ô nhiễm, nhằm mục đích nâng cao sứckhoẻ con ngời nh Luật bảo vệ môi trờng Nước Ta đã nêu. Bên cạnh đó còn phảikể đến môi trờng xã hội, môi trờng thao tác cũng có nhiều ảnh hởng đến sức khoẻcon ngời. Do vậy, việc điều tra và nghiên cứu, giải quyết và xử lý, phòng chống ô nhiễm môi trờng và cảithiện môi trờng xã hội là một việc rất là thiết yếu. Muốn làm đợc điều đó mọingời, mọi tổ chức triển khai trong xã hội mà trớc hết là học viên, sinh viên – những ngời làmchủ tơng lai đất nớc phải cùng nhau tham gia xử lý thì mới đạt đợc hiệu quả. Đó là những yếu tố môi trờng ảnh hởng đến đời sống xã hội, đến kinh tế tài chính đất nớc. Còn môi trờng ảnh hởng đến sức khoẻ con ngời đơn cử nh thế nào ? Thế nào gọi làsức khoẻ môi trờng ? Chúng tôi sẽ trình diễn những khái niệm này ở phần sau. 1. CáC THàNH PHầN CƠ BảN CủA MÔI TRƯờNG1. 1. Môi trờng là gì ? Theo Luật bảo vệ môi trờng Nước Ta ( 1993 ) : môi trờng gồm có những yếu tốtự nhiên và yếu tố vật chất tự tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh conngời, có ảnh hởng tới đời sống, sản xuất, sự sống sót, tăng trưởng của con ngời vàthiên nhiên. 1.2. Các thành phần của môi trờngCác yếu tố kể trên còn gọi là những thành phần của môi trờng gồm có : khôngkhí, đất, nớc, khí hậu, âm thanh, ánh sáng, sức nóng, bức xạ, động thực vật thuộc cáchệ sinh thái xanh, khu dân c, khu sản xuất, cảnh sắc vạn vật thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, ditích lịch sử vẻ vang, khu đi dạo vui chơi, v.v…. Tóm lại, những thành phần của môi trờng baogồm môi trờng vật lý, môi trờng sinh học và môi trờng xã hội. 1.2.1. Môi trờng vật lýMôi trờng vật lý gồm có những yếu tố vật lý nh : khí hậu, tiếng ồn, ánh sáng, bức xạ, gánh nặng lao động. Bên cạnh những yếu tố vật lý còn có những yếu tố hoá họcnh bụi, hoá chất, thuốc men, chất kích thích da, thực phẩm, v.v… 1.2.2. Môi trờng sinh họcMôi trờng sinh học gồm có : động vật hoang dã, thực vật, ký sinh trùng, vi trùng, virus, những yếu tố di truyền, v.v… 1.2.3 Môi trờng xã hộiMôi trờng xã hội gồm có : stress, mối quan hệ giữa con ngời với con ngời, môi trờng thao tác, trả lơng, làm ca, v.v…. 2. CáC KHíA CạNH LịCH Sử CủA SứC KHOẻ MÔI TRƯờNG2. 1. Khái niệm về sức khoẻ môi trờngSức khoẻ môi trờng là gì ? Theo quan điểm của nhiều ngời sức khoẻ môitrờng chính là sức khoẻ của môi trờng. Đây là những ý niệm về đời sống hoang dã, vềrừng, sông, biển, v.v…. và theo họ thì sức khoẻ môi trờng đồng nghĩa tương quan với việc bảo vệmôi trờng. Những ngời khác thì cho rằng sức khoẻ môi trờng là những yếu tố về sứckhoẻ của con ngời có tương quan đến điều kiện kèm theo sống, sự nghèo nàn, lỗi thời, không đủnớc sạch, lũ lụt, sự phá hoại của côn trùng nhỏ và súc vật có hại – toàn bộ những thử thách đóchúng ta đã trải qua, đã chống trả trong suốt quy trình hình thành và tăng trưởng của conngời và đời sống ( nhất là những năm gần đây ) và tất cả chúng ta đã thắng lợi. 10C ả hai quan điểm này đều cha đúng, cha đúng mực, sức khoẻ môi trờngkhông đồng nghĩa tương quan với sức khoẻ của môi trờng và bảo vệ môi trờng và cũng khôngbó hẹp trong việc trấn áp những loại dịch bệnh của thế kỷ qua. Cho đến lúc bấy giờ nhiềutác giả đa ra khái niệm về sức khoẻ môi trờng nh sau : Sức khoẻ môi trờng là tạora và duy trì một môi trờng trong lành, vững chắc để nâng cao sức khoẻ hội đồng. 2.2. Lịch sử tăng trưởng của thực hành thực tế sức khoẻ môi trờngMỗi sinh vật trên toàn cầu đều có môi trờng sống của riêng mình, nếu thoát rakhỏi môi trờng tự nhiên đó hoặc sự đổi khác quá mức được cho phép của môi trờng màchúng đang sống thì chúng sẽ bị chết và bị huỷ diệt. Do đó, bảo vệ sự không thay đổi môitrờng sống là điều kiện kèm theo cơ bản để duy trì sự sống của mọi loài sinh vật trên toàn cầu. Những ví dụ rất giản đơn mà mọi ngời đều biết là ngộ độc oxyd carbon ( CO ) ởnhững ngời đi kiểm tra những lò gạch thủ công bằng tay đốt bằng than hoặc cá chết do nớc bị ônhiễm hoá chất của nhà máy sản xuất phân lân Văn Điển, v.v… Điều đó có nghĩa là môitrờng, con ngời và sức khoẻ con ngời có mối tương quan mật thiết với nhau và có thểcái nọ là nhân quả của cái kia. Không phải đến giờ đây con ngời mới biết tới mốiquan hệ này, mà từ hàng ngàn năm trớc ngời Trung Quốc, ấn Độ, Ba T, Ai Cập cổđại đã biết vận dụng những giải pháp thanh khiết môi trờng để ngăn ngừa và phòngchống dịch cho hội đồng và quân đội. Các t liệu lịch sử vẻ vang cho thấy từ những nămtrớc công nguyên, ở thành Aten ( Hy Lạp ) con ngời đã kiến thiết xây dựng mạng lưới hệ thống cốngngầm để thải nớc bẩn, đã biết dùng những chất thơm, diêm sinh để tẩy uế không khítrong và ngoài nhà để phòng những bệnh truyền nhiễm. Ngời La Mã còn tân tiến hơn : khi kiến thiết xây dựng thành La Mã, ngời ta đã xây dựngmột mạng lưới hệ thống cống ngầm dẫn tới mọi điểm trong thành phố để thu gom nớc thải, nớc ma dẫn ra sông Tibre, đồng thời kiến thiết xây dựng một mạng lưới hệ thống phân phối nớc sạchcho dân chúng trong thành phố. Vào thời kỳ này, độ cao của nhà tại, bề rộng những đờngđi lại trong thành đều đợc lao lý và tiêu chuẩn hoá, những ngời đem bán loạithực phẩm trá hình, thức ăn ôi thiu đều phải chịu tội. Theo thời hạn, cùng với sự tăng trưởng của xã hội, dân số, ô nhiễm môi trờng vàphòng chống ô nhiễm môi trờng càng đợc tăng cờng và tăng trưởng. Nh chúng tađã biết, những tác nhân sinh học, những hoá chất sống sót một cách tự nhiên và những nguy cơvật lý đã sống sót trong suốt quy trình tăng trưởng của lịch sử vẻ vang loài ngời. Đồng thời cácchất ô nhiễm môi trờng do hoạt động giải trí của con ngời sinh ra cũng có quy trình pháttriển từ từ và lâu bền hơn. Cuộc khủng hoảng cục bộ môi trờng lần thứ nhất Open ở Châu Âu lần tiên phong vàothế kỷ 19, nguyên do là do thực phẩm kém chất lợng, nớc bị ô nhiễm ảnh hởngđến sức khoẻ hội đồng. Cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh đã làm cho nớc Anhtrở thành xứ sở sơng mù do ô nhiễm không khí, thời hạn này yếu tố ô nhiễm côngnghiệp là một yếu tố rất là nghiêm trọng nhng bị cơ quan chính phủ lờ đi vì còn nhiều vấnđề xã hội khác quan trọng hơn, mặc dầu năm 1848 Quốc hội Anh đã trải qua Luật Ytế công cộng tiên phong trên quốc tế. Trong quy trình tăng trưởng công nghiệp, ô nhiễmkéo dài cho đến giữa thế kỷ 20 và hàng loạt những ô nhiễm mới song song với ô11nhiễm công nghiệp là ô nhiễm hoá học, hoá chất tổng hợp, nhất là trớc và sau chiếntranh quốc tế lần thứ 2. Những tân tiến của kỹ thuật, nghành nghề dịch vụ hoá học, đặc biệt quan trọng làngành công nghiệp hoá chất đã tạo ra những hoá chất tổng hợp nh cao su đặc tổng hợp, nhựa, những dung môi, thuốc trừ sâu v.v… đã tạo ra rất nhiều chất khó phân huỷ và tồnd lâu dài hơn trong môi trờng nh DDT, 666, dioxin v.v… gây ra ô nhiễm môi trờngnặng nề, dẫn tới sự phản đối kịch liệt của hội đồng nhiều nớc trên quốc tế trongsuốt thời kỳ những năm 60 và 70 của thế kỷ 20 ( xem hộp 1.1 ). Hộp 1.1. Các ví dụ về những sự kiện sức khỏe môi trờng quan trọng1798 – Thomas Malthus thiết kế xây dựng triết lý về phân bổ tài nguyên và dân số1848 – Quốc hội Anh trải qua Luật Y tế công cộng1895 – Svante Arrhenius diễn đạt hiện tợng hiệu ứng nhà kính1899 – Hiệp định Quốc tế tiên phong về cấm vũ khí hoá học1956 – Anh trải qua Luật Không khí sạch1962 – Việc xuất bản cuốn sách Mùa xuân lặng lẽ ( silent spring ) của Rachel Carson đã thuhút đợc sự chú ý quan tâm tới yếu tố thuốc trừ sâu và môi trờng1969 – Hiệp định quốc tế tiên phong về hợp tác trong trờng hợp ô nhiễm biển ( vùng biển phíaBắc ) 1972 – Hội nghị của Liên hiệp quốc về Môi trờng và Con ngời, Stockholm ; DDT đã bị cấmsử dụng ở Mỹ1982 – Hội nghị đa phơng về sự acid hoá môi trờng đã khởi đầu quy trình dẫn tới chínhthức thừa nhận yếu tố ô nhiễm xuyên biên giới và nhu yếu về sự trấn áp quốc tế1986 – Hội nghị quốc tế tiên phong về nâng cao sức khoẻ ( health promotion ) trải qua Hiếnchơng Ottawa, trong đó định nghĩa nâng cao sức khoẻ là tạo điều kiện kèm theo cho conngời trấn áp những yếu tố quyết định hành động tới sức khoẻ của họ. 1987 – Báo cáo của Uỷ ban Brundtland ” Tơng lai chung của tất cả chúng ta ” ( Our CommonFuture ) đã lôi kéo hớng tới ” tăng trưởng bền vững và kiên cố ” ; Nghị định th Montreal về hạnchế phát thải clorofluorocarbon ( CFC ) vào không khí để giảm vận tốc suy giảm tầngozon ở tầng bình lu1992 – Hội nghị thợng đỉnh toàn cầu ( Hội nghị của Liên hiệp quốc về Môi trờng và pháttriển ), Rio de Janeiro1994 – Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển, Cairo1995 – Hội nghị Thợng đỉnh của Liên hiệp quốc về Phát triển xã hội, Copenhagen1996 – Hội nghị của Liên hiệp quốc về yếu tố định c ( HABITAT II ), Istanbul1997 – Hiệp định khung của Liên hiệp quốc về biến hóa khí hậu, KyotoNguồn : Yassi và tập sự, 2001L àn sóng lần thứ hai về những yếu tố môi trờng xảy ra vào những năm giữa củathế kỷ 20 với hai trào lưu lớn là môi trờng và sinh thái xanh. Phong trào môi trờng làviệc bảo tồn tài nguyên vạn vật thiên nhiên, nhất là những tài nguyên không tái tạo. Kết quả là12động vật trên đất liền ở nhiều vùng vạn vật thiên nhiên hoang dã, những vùng đất, biển quý hiếmkhác, cảnh sắc vạn vật thiên nhiên đợc bảo tồn và tôn tạo. Về trào lưu sinh thái xanh tập trungvào những chất hoàn toàn có thể gây độc cho con ngời hoặc có năng lực gây huỷ hoại môi trờng. Kết quả của những trào lưu này cùng với Hội nghị của Liên hợp quốc về môitrờng và con ngời đã đợc tổ chức triển khai vào năm 1972 đã thuyết phục đợc nhiều chínhphủ những nớc trải qua luật lệ nhằm mục đích hạn chế ô nhiễm công nghiệp và phát thải rác, phòng chống ô nhiễm hoá học, bảo vệ chất lợng và vệ sinh bảo đảm an toàn thực phẩm, thuốc, v.v… Làn sóng lần thứ ba về những yếu tố sức khoẻ môi trờng là từ những năm 80, 90 đến nay, ngoài những yếu tố ô nhiễm công nghiệp, hoá chất còn có những yếu tố vềdioxyd carbon, clorofluorocarbon gây thủng tầng ozon, yếu tố cân đối môi trờng, tăng trưởng bền vững và kiên cố, môi trờng toàn thế giới đổi khác, khí hậu toàn thế giới nóng lên, v.v… sẽcòn phải xử lý trong nhiều thập kỷ tới. 3. NộI DUNG MÔN SứC KHOẻ MÔI TRƯờNGTất cả những góc nhìn của sức khoẻ môi trờng là xác lập, giám sát, kiểm soátcác yếu tố vật lý, hoá học, sinh học và xã hội có ảnh hởng đến sức khoẻ con ngời. Thực hành sức khoẻ môi trờng gồm có : nhìn nhận, trấn áp và phòng ngừacác yếu tố trong môi trờng ảnh hởng xấu đi đến sức khoẻ con ngời, đồng thờiphát huy những yếu tố môi trờng có lợi cho sức khoẻ. Việc này gồm có tổng thể những biệnpháp thiết yếu để đương đầu với những yếu tố : nh suy thoái và khủng hoảng môi trờng, biến hóa khí hậu, những rủi ro tiềm ẩn môi trờng ( nh : ô nhiễm đất, nớc, không khí, ô nhiễm thực phẩm ), tiếpxúc với hoá chất và yếu tố rác thải lúc bấy giờ. Thực hành sức khoẻ môi trờng còn tạođiều kiện, thời cơ để nâng cao sức khoẻ bằng cách lập kế hoạch nâng cao sức khoẻ vàtiến tới kiến thiết xây dựng một môi trờng có lợi cho sức khoẻ. Các hoạt động giải trí sức khoẻ môitrờng đợc thực thi ở toàn bộ những cấp, gồm có : Xây dựng, tăng trưởng những chiến lợc và tiêu chuẩn, gồm : + An toàn dân số. + T vấn hội đồng, bảo vệ sức khoẻ trong những trờng hợp khẩn cấp. + Theo dõi, quan trắc và thiết kế xây dựng những tiêu chuẩn nh tiêu chuẩn về nhà ở v.v… + Nâng cao tăng trưởng sức khoẻ. Phát triển và đa ra những khuyến nghị về sức khoẻ môi trờng : + Cung cấp thông tin cho hội đồng về sức khoẻ môi trờng. + Nghiên cứu sức khoẻ môi trờng. + Giáo dục đào tạo sức khoẻ môi trờng. Cần phải có kế hoạch kiến thiết xây dựng luật sức khoẻ môi trờng. 13Q uản lý môi trờng vật lý : + An toàn nớc, nhất là bảo đảm an toàn nớc ở khu vui chơi. + An toàn thực phẩm. + Quản lý chất thải rắn. + An toàn và sức khoẻ nghề nghiệp. + Phòng chống chấn thơng. + Kiểm soát tiếng ồn. + Sức khoẻ và chất phóng xạ. Quản lý rủi ro tiềm ẩn sinh học : + Kiểm soát côn trùng nhỏ và những động vật hoang dã có hại. + Quản lý bệnh truyền nhiễm qua vật chủ trung gian truyền bệnh. + Kiểm soát vi sinh vật. Quản lý rủi ro tiềm ẩn hoá học : + Xây dựng những tiêu chuẩn bảo đảm an toàn hoá học cho không khí, đất, nớc sinhhoạt, nớc thải và thực phẩm. + Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật bảo đảm an toàn. + Đánh giá và quản trị những rủi ro tiềm ẩn sức khoẻ ở những vùng bị ô nhiễm ví dụnh dioxin, v.v… + Kiểm soát thuốc, chất độc, những loại sản phẩm y dợc khác. + Chất độc học. + Kiểm soát thuốc lá. Bên cạnh đó còn nhiều những yếu tố khác cần phải trấn áp nh : phân phối đủthức ăn dinh dỡng, phân phối nớc sạch, điều kiện kèm theo vệ sinh và giải quyết và xử lý rác thải nhất là ởnông thôn lúc bấy giờ, phân phối nhà tại và bảo vệ tỷ lệ dân số v.v… Ngoài ra, còn một số ít những yếu tố khác nhất là năng lực tiềm tàng của những nguycơ môi trờng và suy thoái và khủng hoảng môi trờng tác động ảnh hưởng lên sức khoẻ do những đặc thù sau : Thờng xảy ra sau một thời hạn dài tiếp xúc. Các bệnh tương quan đến môi trờng thờng do hoặc tương quan đến nhiều nguyênnhân khác nhau, ví dụ nh viêm phế quản mạn tính hoàn toàn có thể là do môi trờng bị ônhiễm, do vi trùng, thể lực v.v. Thực hành sức khoẻ môi trờng sử dụng kiến thức và kỹ năng và kiến thức và kỹ năng của nhiều lĩnh vựckhác nhau để tập trung chuyên sâu xử lý những yếu tố sức khoẻ tiềm tàng. 14L oài ngời là TT của tăng trưởng bền vững và kiên cố. Họ có quyền sống một cuộcsống khoẻ mạnh và hoà hợp với tự nhiên. ( Tuyên bố Rio de Janero về Môi trờng và Phát triển ) 4. QUAN Hệ GIữA SứC KHOẻ Và MÔI TRƯờNGKhi con ngời tiên phong Open trên toàn cầu, tuổi thọ trung bình của họ chỉkhoảng từ 30 đến 40 tuổi. Do sống trong môi trờng khắc nghiệt, tuổi thọ của họ thấphơn nhiều so với tuổi thọ của con ngời trong xã hội lúc bấy giờ. Tuy vậy, 30 – 40 nămcũng đủ để cho họ hoàn toàn có thể sinh con đẻ cái, tự thiết lập cho mình đời sống với t cáchlà một loài có năng lực cao nhất trong việc làm đổi khác môi trờng theo hớng tốtlên hay xấu đi. Để hoàn toàn có thể sống sót, những ngời tiền sử phải đương đầu với những yếu tố sau đây : Luôn phải tìm kiếm nguồn thức ăn và nớc uống trong khi tránh ăn phải nhữngthực vật có chứa chất độc tự nhiên ( ví dụ nấm độc ) hoặc những loại thịt đã bị ôi thiu, nhiễm độc. Bệnh nhiễm trùng và những ký sinh trùng đợc truyền từ ngời này sang ngờikhác hoặc từ động vật hoang dã sang con ngời trải qua thực phẩm, nớc uống hoặc những côntrùng truyền bệnh. Chấn thơng do ngã, hoả hoạn hoặc động vật hoang dã tiến công. Nhiệt độ quá nóng hoặc quá lạnh, ma, tuyết, thảm hoạ vạn vật thiên nhiên ( nh bão lụt, hạn hán, cháy rừng v.v. ) và những điều kiện kèm theo khắc nghiệt khác. Những mối nguy khốn so với sức khoẻ con ngời luôn luôn xảy ra trong môitrờng tự nhiên. Trong một số ít xã hội, những mối nguy hại truyền thống lịch sử trên đây vẫnlà những yếu tố sức khoẻ môi trờng đợc chăm sóc nhiều. Tuy nhiên, khi con ngờiđã trấn áp đợc những mối nguy hại này ở 1 số ít vùng, thì những mối nguy hiểmhiện đại do sự tăng trưởng kỹ thuật, công nghiệp tạo ra cũng đã trở thành những mối đedọa tiên phong so với sức khoẻ và sự sống của con ngời. Một số ví dụ về những mối nguyhiểm môi trờng tân tiến là : Môi trờng đất, nớc ở nông thôn bị ô nhiễm nghiêm trọng do sử dụng hóa chấtbảo vệ thực vật không đúng chủng loại, liều lợng và không đúng cách. Các sự cố rò rỉ những lò phản ứng hạt nhân / xí nghiệp sản xuất điện nguyên tử, v.v… Sự đổi khác khí hậu toàn thế giới, hiệu ứng nhà kính, v.v… Trong một vài thập kỷ vừa mới qua, tuổi thọ của con ngời đã tăng lên đáng kể ở hầuhết những vương quốc. Các nhà tìm hiểu cho rằng có 3 nguyên do cơ bản dẫn tới việc tăng tuổi thọcủa con ngời : + Những văn minh trong môi trờng sống của con ngời. Những cải tổ về yếu tố dinh dỡng. + Những văn minh trong chẩn đoán và điều trị y học so với những loại bệnh tật. 15N hững tân tiến trong y tế luôn đi cùng với với những cải tổ về chất lợng môitrờng, dinh dỡng và chăm nom y tế. Ngày nay, những ngời ốm yếu có thời cơ sốngsót cao hơn nhiều do mạng lưới hệ thống chăm nom y tế đợc cải tổ. Rất nhiều ngời luônsống khoẻ mạnh, do có nguồn dinh dỡng tốt và trấn áp tốt những mối nguy hại vềsức khoẻ môi trờng. Khoa học môi trờng là một môn học rất thiết yếu và quan trọng dựa trên hai lýdo cơ bản sau đây : + Nghiên cứu những mối nguy hại trong môi trờng và những ảnh hởngcủa chúng lên sức khoẻ. + ứng dụng những phơng pháp hiệu suất cao để bảo vệ con ngời khỏi nhữngmối nguy cơ tiềm ẩn từ môi trờng. Muốn vậy tất cả chúng ta hãy xem xét thế nào là sức khoẻ và thế nào là môi trờng ? Trớc hết tất cả chúng ta hãy điểm qua vài nét về hệ sinh thái : Ra đời từ những năm 1930, thuật ngữ hệ sinh thái hoàn toàn có thể đợc định nghĩa nh làmột mạng lưới hệ thống gồm những mối quan hệ tơng tác qua lại giữa những sinh vật sống và môitrờng tự nhiên của chúng. Đó là một thực thể đóng đã đạt đợc những chính sách tự ổn địnhvà nội cân đối, đã tiến hoá qua hàng thế kỷ. Trong một hệ sinh thái không thay đổi, một loàinày không loại trừ một loài khác, nếu không thì nguồn cung ứng thức ăn cho nhữngloài ăn thịt sẽ không sống sót. Các hệ sinh thái không thay đổi và cân đối sẽ có tuổi thọ caonhất. Một hệ sinh thái sẽ không hề duy trì đợc một số ít lợng lớn vật chất và nănglợng đợc tiêu thụ bởi một loài và lại không loại trừ một loài khác và thậm chí còn còngây nguy khốn cho năng lực sống sót của hàng loạt hệ sinh thái. Tơng tự nh vậy, khảnăng của một hệ sinh thái trong việc tiềm ẩn chất thải và tái tạo đất, nớc ngọtkhông phải là vô hạn. Tại một thời gian nào đó, những ảnh hưởng tác động từ bên ngoài sẽ phávỡ cân đối của hệ sinh thái, dẫn đến sự đổi khác nhanh gọn hoặc làm huỷ diệt hệsinh thái đó. Định nghĩa sức khoẻ và môi trờng : Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới ( 1946 ) thì sức khoẻ là trạng tháithoải mái về cả ý thức, sức khỏe thể chất và xã hội chứ không chỉ đơn thuần là vô bệnh, tật. Khái niệm bệnh, tàn tật và tử trận dờng nh đợc những nhân viên cấp dưới y tế đề cập tới nhiềuhơn so với khái niệm lý tởng này về sức khoẻ. Do vậy khoa học sức khoẻ hầu nh đãtrở thành khoa học bệnh tật, vì nó tập trung chuyên sâu đa phần vào việc điều trị những loại bệnh vàchấn thơng chứ không phải là nâng cao sức khoẻ. Tơng tự nh vậy, nhiều định nghĩa về môi trờng trong toàn cảnh sức khoẻ đãđợc đề cập. Theo định nghĩa mới nhất ( 1995 ), môi trờng là toàn bộ những gì ở bênngoài khung hình con ngời. Nó hoàn toàn có thể đợc phân loại thành môi trờng vật lý, sinh học, xã hội, văn hoá … Bất kỳ môi trờng nào hay tổng thể những môi trờng trên đều hoàn toàn có thể ảnhhởng tới thực trạng sức khoẻ của quần thể. Định nghĩa này đợc dựa trên quan điểm16là sức khoẻ của con ngời đa phần đợc xác lập do yếu tố di truyền và môi trờng. Yếu tố di truyền ( gen ) do cha mẹ truyền lại, gồm có ADN trong mỗi tế bào khung hình. Các gen này sống sót khi phôi đợc hình thành và không có sự biến hóa nào về di truyềntrong suốt quy trình tăng trưởng của con ngời. Nếu nh có sự biến hóa gen ( nh trongtrờng hợp đột biến ), nó hoàn toàn có thể dẫn tới sự mất công dụng, chết tế bào và ung th ( ởmột số trờng hợp đột biến đơn cử ). Cơ sở vật chất di truyền của một thành viên là mộttrong những yếu tố chính xác định việc thành viên đó bị ảnh hởng nh thế nào bởi cácyếu tố môi trờng. Một số thành viên sẽ bị ảnh hởng khi tiếp xúc với những chất ô nhiễm, những nguy khốn môi trờng với hàm lợng lớn. Một số thành viên khác lại bị ảnh hởng ởmức độ thấp hơn, chính do họ có những yếu tố rủi ro tiềm ẩn / điều kiện kèm theo kép hoặc rủi ro tiềm ẩn / điềukiện đã có từ trớc. Một số ngời bị ảnh hởng ở một mức độ rất thấp do tính nhạycảm di truyền. Điều đó vật chứng cho những ảnh hởng của môi trờng so với sứckhoẻ. Tuy nhiên, đã một thời chính con ngời đã làm huỷ hoại và suy thoái và khủng hoảng môitrờng. Vì suy thoái và khủng hoảng môi trờng nên có ảnh hởng tới sức khoẻ hội đồng nh ung thda tăng lên ở nước Australia khi tầng ozon bị suy giảm. Con ngời đã phá rừng trong quy trình tăng trưởng của mình và hậu quả là conngời phải chịu những hậu quả của lũ quét, của đổi khác khí hậu toàn thế giới, của ônhiễm những chất thải công nghiệp. Khi con ngời huỷ hoại môi trờng thì theo quy luật nhân quả học, con ngờicũng phải chịu những mối rình rập đe dọa từ môi trờng, đó là những mối nguy khốn hiện đạivà truyền thống cuội nguồn. Khái niệm về sức khoẻ môi trờng : Hiện nay trên quốc tế, vẫn còn nhiều tranh cãi về những định nghĩa nh môi trờnglà gì ? Sức khỏe môi trờng là gì. Đặc biệt việc phân biệt sự khác nhau giữa hai phạmtrù môi trờng và sức khỏe môi trờng là rất khó khăn vất vả. Sức khỏe môi trờng là mộtthuật ngữ không dễ định nghĩa. Nếu tất cả chúng ta cho đó là Sức khỏe của môi trờng thìdờng nh tất cả chúng ta không chăm sóc tới một loài nào đơn cử, ví dụ loài ngời. Nhngnếu một ai đó lại muốn định nghĩa thuật ngữ này ám chỉ tới sức khỏe con ngời thìđiều này lại còn quá nhiều chỗ để tranh cãi. Hai định nghĩa dới đây, định nghĩa đầutiên chăm sóc tới những ảnh hởng của môi trờng lên sức khỏe trong khi định nghĩathứ hai chăm sóc tới những dịch vụ sức khỏe môi trờng. Định nghĩa 1 : Sức khỏe môi trờng gồm có những góc nhìn về sức khỏe conngời ( gồm có cả chất lợng đời sống ), đợc xác lập bởi những yếu tố vật lý, hóahọc, sinh học, xã hội và những yếu tố tâm ý trong môi trờng ( theo định nghĩa trongChiến lợc Sức khỏe Môi trờng Quốc gia của nước Australia – 1999 ). Định nghĩa này cũngám chỉ tới cả triết lý và thực tiễn của việc quyết định hành động, trấn áp và phòng ngừa đốivới những yếu tố trên trong môi trờng, những yếu tố hoàn toàn có thể có ảnh hởng tiềm tàngbất lợi so với sức khỏe của những thế hệ hiện tại cũng nh những thế hệ tơng lai. 17 Định nghĩa 2 : Các dịch vụ sức khỏe môi trờng là những dịch vụ nhằm mục đích cải thiệncác chủ trương về sức khỏe môi trờng qua những hoạt động giải trí giám sát, trấn áp. Chúngcũng thực thi vai trò tăng cờng sự cải tổ những số lượng giới hạn của môi trờng vàkhuyến khích việc sử dụng những công nghệ sạch và khuyến khích những thái độ cũngnh những cách c xử tốt so với môi trờng và sức khỏe. Những dịch vụ này cũng cóvai trò quan trọng trong việc tăng trưởng và đề xuất kiến nghị những chủ trương mới về sức khoẻmôi trờng. 5. TáC ĐộNG CủA DÂN Số, ĐÔ THị HOá LÊN SứC KHOẻ CộNG ĐồNG Và MÔITRƯờNGNhững thử thách về dân số Nước Ta là rất nghiêm trọng so với tổng thể những vấnđề môi trờng và tài nguyên vạn vật thiên nhiên. Tăng dân số vẫn ở mức cao 1,7 % ( 1999 ) vàdi dân nội bộ từ những khu vực nghèo tài nguyên và kinh tế tài chính kém tăng trưởng vẫn đang tănglên và không trấn áp đợc. Theo dự báo đến năm 2020, dân số nớc ta giao động 100 triệu ngời, trong khi đó những nguồn tài nguyên đất, nớc và những dạng tài nguyên kháccó xu thế suy giảm, yếu tố nghèo nàn ở những vùng sâu, vùng xa cha đợc giải quyếttriệt để ( hiện cả nớc có 1750 xã ở diện đói nghèo ). Quá trình đô thị hoá và phát triểnkinh tế bằng con đờng công nghiệp hoá yên cầu nhu yếu về năng lợng, nguyên liệungày càng to lớn, kéo theo chất lợng môi trờng sống ngày càng xấu đi nếu không cócác giải pháp hữu hiệu ngay từ đầu. Mặt khác, quy trình đô thị hoá và công nghiệphoá ở nhiều khu vực, vùng chủ quyền lãnh thổ lại không đợc không cho vừa đủ theo quan điểmphát triển vững chắc, nghĩa là cha giám sát không thiếu những yếu tố môi trờng trong pháttriển kinh tế tài chính xã hội. Theo dự kiến, vận tốc tăng trởng GDP phải đạt xê dịch 7 % / năm vàđợc duy trì liên tục đến năm 2010. Theo giám sát của những chuyên viên nớc ngoài, nếu GDP tăng gấp đôi thì nguy cơ chất thải tăng gấp 3 – 5 lần. Và nếu nh trình độcông nghệ sản xuất, cơ cấu tổ chức sản xuất, trình độ quản trị sản xuất, trình độ quản trị môitrờng không đợc nâng cấp cải tiến thì sự tăng trởng sẽ kéo theo tăng khai thác, tiêu thụ tàinguyên và năng lợng. Điều này dẫn đến khai thác hết sạch tài nguyên vạn vật thiên nhiên, tạo rasự ngày càng tăng những loại chất thải và ô nhiễm môi trờng gây nên sức ép cho môi trờng. Trongkhi đó môi trờng đô thị, công nghiệp và nông thôn liên tục bị ô nhiễm. Đến năm 1999, dân đô thị là 23 % so với dân số cả nớc, dự kiến năm 2010 là 33 % và 2020 là 45 %. Môi trờng đô thị ở nớc ta bị ô nhiễm bởi những chất thải rắn, nớc thải chđợc thu gom và giải quyết và xử lý theo đúng lao lý. Khí thải, bụi, tiếng ồn v.v… từ những phơngtiện giao thông vận tải nội thị và mạng lới sản xuất quy mô vừa và nhỏ cùng với cơ sở hạtầng yếu kém càng làm cho điều kiện kèm theo vệ sinh môi trờng ở nhiều đô thị đang thực sựlâm vào thực trạng đáng báo động. Hệ thống cấp và thoát nớc lỗi thời, xuống cấp trầm trọng, không cung ứng đợc nhu yếu. Mức ô nhiễm không khí về bụi, những khí thải độc hạinhiều nơi vợt tiêu chuẩn được cho phép nhiều lần, nhất là tại những thành phố lớn nh HàNội và thành phố Hồ Chí Minh vợt tiêu chuẩn được cho phép 2 – 3 lần. 18M ôi trờng nông thôn đang bị ô nhiễm do những điều kiện kèm theo vệ sinh và cơ sở hạ tầngyếu kém. Việc sử dụng không hài hòa và hợp lý những hoá chất nông nghiệp đã và đang làm chomôi trờng nông thôn ô nhiễm và suy thoái và khủng hoảng. Việc tăng trưởng những làng nghề tiểu thủcông nghiệp đã làm ô nhiễm môi trờng nghiêm trọng. Nớc hoạt động và sinh hoạt và vệ sinh làvấn đề cấp bách, tỷ suất hố xí hợp vệ sinh ở nông thôn chỉ đạt khoảng chừng 34 % và chỉkhoảng 46 % số hộ dân nông thôn đợc dùng nớc hợp vệ sinh ( Trung tâm Nớc sinhhoạt và Vệ sinh nông thôn 2001 ). Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đếnhết năm 2002, chỉ mới 50 % số dân nông thôn đợc sử dụng nớc sạch. Nạn khai thác rừng bừa bãi, thậm chí còn xảy ra ở cả những khu rừng cấm, rừng đặcdụng ; nạn đốt phá rừng đã gây ra những thảm hoạ cháy rừng nghiêm trọng nh vụcháy rừng nớc mặn U Minh vừa mới qua ; đồng thời, việc săn bắt động vật hoang dã hoang dã cũngđang làm suy giảm đa dạng sinh học và gây huỷ hoại môi trờng. Những yếu tố củamôi trờng xã hội ngày càng trở nên bức xúc nh ma tuý, HIV / AIDS và đấm đá bạo lực. Những yếu tố môi trờng toàn thế giới nh tầng ozon bị suy giảm, hiệu ứng nhà kính, khíhậu toàn thế giới nóng lên, biến hóa khí hậu, mực nớc biển dâng cao, hiện tợng En Ni-nô ; La Ni-na gây nên những hiện tợng hạn hán, lũ lụt xảy ra ở nhiều nơi trên thế giớitrong đó có Nước Ta ; đồng thời, nạn vận động và di chuyển ô nhiễm sang những nớc đang pháttriển cũng là một yếu tố cần chú trọng. Từ những yếu tố trên trong thực tiễn yên cầu phải có một chủ trương về môi trờng, sứckhoẻ môi trờng một cách đúng đắn, đồng nhất và hài hòa và hợp lý trong quá trình tăng trưởng mớicủa đất nớc ta. 6. NHữNG ĐịNH HƯớNG CƠ BảN CHO MÔI TRƯờNG LàNH MạNH6. 1. Bầu không khí trong sạchKhông khí rất thiết yếu cho sự sống, nếu thiếu không khí, con ngời sẽ chết chỉsau một vài phút. Ô nhiễm không khí là một trong những yếu tố môi trờng trầmtrọng nhất trong những xã hội ở tổng thể những Lever tăng trưởng kinh tế tài chính khác nhau. Trên thếgiới, hàng ngày có khoảng chừng 500 triệu ngời phải tiếp xúc với một hàm lợng lớn ônhiễm không khí trong nhà ở những dạng nh : khói từ những lò sởi không kín hoặc lò sởiđợc phong cách thiết kế tồi và khoảng chừng 1, 5 tỷ ngời ở những khu vực thành thị phải sống trong môitrờng bị ô nhiễm không khí nặng nề ( WHO, 1992 ). Sự tăng trưởng của ngành côngnghiệp song song với việc thải ra số lợng lớn những khí và những chất hạt từ quy trình sản xuấtcông nghiệp và từ quy trình đốt cháy những nguyên vật liệu hoá thạch cho nhu yếu giao thôngvận tải và lấy năng lợng. Khi những tân tiến công nghệ tiên tiến đã khởi đầu chú trọng đến việckiểm soát ô nhiễm không khí bằng cách giảm việc thải ra những chất hạt thì ngời ta vẫntiếp tục thải ra những chất khí, do vậy ô nhiễm không khí vẫn còn là yếu tố lớn. Mặc dùhiện nay nhiều nớc tăng trưởng đã có những nỗ lực lớn để trấn áp cả việc thải khí vàcác chất hạt, ô nhiễm không khí vẫn là rủi ro tiềm ẩn so với sức khoẻ của nhiều ngời. 19 ở những xã hội tăng trưởng nhanh gọn, việc trấn áp ô nhiễm không khíkhông đợc đầu t thích hợp vì còn những u tiên khác về kinh tế tài chính và xã hội. Việc pháttriển công nghiệp nhanh gọn ở những nớc này đã xảy ra đồng thời với việc gia tănglợng xe hơi và những loại xe tải khác, nhu yếu điện thắp sáng tại những hộ mái ấm gia đình cũngtăng lên, dân số tập trung chuyên sâu ở những khu đô thị hoặc những thành phố lớn. Kết quả là một sốthảm hoạ ô nhiễm không khí tồi tệ nhất trong lịch sử dân tộc quốc tế đã xảy ra. ở những vương quốc nơi mà việc sử dụng những nguồn năng lợng sạch ở những hộ giađình vẫn cha đợc chú trọng, ô nhiễm không khí đã trở thành một yếu tố trầm trọngvì năng lợng dùng để sởi ấm và đun nấu còn thiếu và sản sinh ra rất nhiều khói, dẫnđến ô nhiễm trong nhà và ngoài trời. Kết quả là con ngời hoàn toàn có thể bị kích thích màngnhầy, mắc những bệnh hô hấp, bệnh phổi, những yếu tố về mắt và tăng rủi ro tiềm ẩn bị ung th. Phụ nữ và trẻ nhỏ ở những hội đồng nghèo nàn tại những nớc đang tăng trưởng là nhữngngời đặc biệt quan trọng phải tiếp xúc nhiều với ô nhiễm không khí. Chất lợng không khí trong nhà cũng là yếu tố nghiêm trọng ở nhiều nớc pháttriển vì những toà nhà đợc phong cách thiết kế theo kiểu kín gió và có hiệu suất cao cao về mặt nănglợng. Hệ thống lò sởi và mạng lưới hệ thống làm lạnh, khói, hơi từ những vật tư tích trữ trongnhà tạo ra nhiều chất hoá học và gây ra ô nhiễm không khí. 6.2. Có đủ nớc sạch cho nhà hàng siêu thị và sinh hoạtNớc cũng rất thiết yếu cho sự sống. Trung bình mỗi ngời cần phải uống tốithiểu 2 lít nớc / ngày. Nếu sau 4 ngày không có nớc, con ngời sẽ chết. Nớc cũngcần thiết cho thực vật, động vật hoang dã và nông nghiệp. Trong suốt lịch sử vẻ vang tăng trưởng, conngời luôn tập trung chuyên sâu sống dọc theo những bờ sông, ven hồ để lấy nớc cho hoạt động và sinh hoạt vànông nghiệp. Nớc cũng phân phối phơng tiện luân chuyển tự nhiên, đợc sử dụng đểxử lý chất thải và đóng một vai trò quan trọng trong những ngành công nghiệp, ngnghiệp và những trang trại. Mặc dù nớc ngọt đợc coi là một nguồn tài nguyên có thểtái sử dụng, nhng nớc ngọt cũng không phải là một nguồn vô hạn. Hơn nữa, nớcđợc phân bổ không đồng đều ở những khu vực địa lý và dân c trên quốc tế. Tại rấtnhiều nơi, việc thiếu nớc đã trở thành trở ngại lớn so với việc tăng trưởng công nghiệpvà nông nghiệp. Trong một số ít trờng hợp, việc thiếu nớc đã gây ra nhiều cuộc xungđột ( ví dụ : những xung đột tranh chấp nớc ngọt ở những nớc khu vực Trung Đông ), việc khan hiếm nớc dẫn đến đói nghèo và làm cằn cỗi đất đai. Rất nhiều thành phốvà những khu vực nông thôn đã khai thác nớc từ những tầng nớc ngầm với số lợng rấtlớn, lớn hơn cả năng lực mà bản thân những tầng nớc ngầm này hoàn toàn có thể tự bổ trợ lạiđợc. Chất lợng của nớc ngọt có tầm quan trọng rất lớn trong việc duy trì sức khoẻcon ngời. Rất nhiều bệnh truyền nhiễm đe doạ sự sống và sức khoẻ con ngời đợctruyền qua nớc hoặc thực phẩm bị nhiễm bẩn. Khoảng 80 % những bệnh tật ở những nớcđang tăng trưởng là do thiếu nớc sạch và thiếu những phơng tiện tương thích để giải quyết và xử lý phân ( WHO, 1992 ). Có khoảng chừng 50% dân số trên quốc tế mắc phải những bệnh do thiếu20nớc hoặc nớc bị nhiễm bẩn, gây ảnh hởng hầu hết so với những tầng lớp ngời nghèo ởtất cả những nớc đang tăng trưởng. Có khoảng chừng 2 tỷ ngời trên toàn cầu có rủi ro tiềm ẩn mắcphải những bệnh ỉa chảy lây lan qua đờng nớc hoặc thực phẩm, đây là nguyên nhânchính gây ra tử trận khoảng chừng gần 4 triệu trẻ nhỏ mỗi năm. Các vụ dịch tả thờng đợctruyền qua nớc uống bị nhiễm bẩn, đang tăng lên nhanh gọn về mặt tần suất. Bệnhsán máng ( 200 triệu ngời nhiễm bệnh ) và bệnh giun ( 10 triệu ngời bị nhiễm bệnh ) là 2 dạng bệnh thông dụng trầm trọng nhất có tương quan tới nớc. Các vectơ côn trùngsinh sản nhờ nớc cũng truyền những bệnh đe doạ sự sống của con ngời, ví dụ điển hình nhsốt rét ( 267 triệu ngời bị nhiễm ), giun chỉ ( 90 triệu ngời nhiễm ), và sốt xuất huyết ( 30 – 60 triệu ngời nhiễm ) ( WHO, 1992 ). Việc thiếu nớc thờng dẫn đến những yếu tố có tương quan tới chất lợng nớc. Nớc thải hoạt động và sinh hoạt, nớc thải công nghiệp – nông nghiệp và những khu đô thị đã làmvợt quá năng lực của những vực nớc tự nhiên trong việc phân huỷ những chất thải có khảnăng phân huỷ sinh học và hoà tan những chất thải không có năng lực phân huỷ sinhhọc. Ô nhiễm nớc xảy ra trầm trọng nhất ở những thành phố nơi mà việc trấn áp cácdòng thải công nghiệp không ngặt nghèo và thiếu những ống, rãnh dẫn nớc thải, thiếu cácnhà máy giải quyết và xử lý nớc thải. 6.3. Đủ thực phẩm và thực phẩm an toànThực phẩm phân phối năng lợng cho khung hình con ngời. Tuỳ vào trọng lợng cơthể và những hoạt động giải trí về thể lực mà khung hình con ngời cần khoảng chừng 1000 – 2000 calo nănglợng mỗi ngày. Nếu nh không có thực phẩm, con ngời sẽ chết sau 4 tuần. Thựcphẩm cũng cung ứng những vitamin và những chất vi lợng, nếu không có những chất này, conngời cũng sẽ mắc 1 số ít bệnh thiếu vắng. Trong vài thập kỷ vừa mới qua, mạng lưới hệ thống sản xuất lơng thực của quốc tế đã đáp ứngđủ so với nhu yếu tăng trởng dân số ( hình 1.3 ). Tuy nhiên, những thành công xuất sắc trongnông nghiệp toàn thế giới cũng không đợc phân bổ đồng đều, ví dụ : những nớc châu á vàchâu Mỹ La Tinh đã tăng sản lợng lơng thực trên đầu ngời một cách đáng kể, nhng sản lợng lơng thực của những nớc châu Phi vẫn cha theo kịp đợc mức tăngtrởng dân số của họ ; những nớc thuộc Liên Xô cũ cũng đã giảm sút sản lợng lơngthực một cách đáng kể. Đối với phần nhiều dân số trên quốc tế, suy dinh dỡng và cácbệnh tương quan tới suy dinh dỡng vẫn còn là một nguyên do chính gây ra tình trạngốm yếu và chết yểu. Các tác nhân gây bệnh qua thực phẩm gây ra hàng triệu ca ỉachảy mỗi năm, gồm có cả hàng nghìn ngời ở những nớc tăng trưởng. Việc phân bốvà sử dụng thức ăn không hài hòa và hợp lý là thủ phạm chính gây ra những ca bệnh này. Việc suythoái đất và hết sạch những nguồn nớc một cách nhanh gọn cũng tạo ra mối đe doạnguy hiểm so với việc sản xuất lơng thực trong tơng lai. 21H ộp 1.2. Khái niệm môi trờng tương hỗ sức khỏeTrong khái niệm môi trờng tương hỗ sức khoẻ, ngời ta bàn tới những yếu tố quyết định hành động sứckhoẻ của hàng loạt quần thể, gồm có những yếu tố sau : Vai trò của những yếu tố môi trờng địa phơng trong sự tăng trưởng lành mạnh của mộtcộng đồngMột cách tiếp cận tạo điều kiện kèm theo nâng cao sức khoẻ cũng nh bảo vệ khỏi tiếp xúc vớicác yếu tố rủi ro tiềm ẩn môi trờngXây dựng công minh trong y tế so với một cộng đồngTầm quan trọng của tăng trưởng vững chắc nh là một yếu tố sức khoẻTầm hiểu biết của con ngời về môi trờng trên một diện rộngNhận thức của con ngời về sự chăm sóc và tham gia của cá thể nhằm mục đích duy trì hoặctạo ra một môi trờng lành mạnhNguồn : Haglund và tập sự, 1992.7. TổNG QUAN Về CHíNH SáCH Và QUảN Lý SứC KHOẻ MÔI TRƯờNG7. 1. Tình hình triển khai chủ trương và quản trị môi trờngVề chủ trương bảo vệ môi trờng : vào những năm 80, lần tiên phong những nhà khoahọc đã đa ra dự thảo chiến lợc bảo vệ môi trờng vương quốc. Tháng 12/1992, Hộinghị Quốc tế về Môi trờng và Phát triển bền vững và kiên cố đã trải qua kế hoạch 10 năm vềmôi trờng, đây đợc coi nh một chiến lợc vương quốc về môi trờng cho giai đoạn1991 – 2000. Trên cơ sở đó, nhiều chủ trương, văn bản pháp lý, hàng loạt những hoạtđộng về quản trị môi trờng đã đợc phát hành nh Luật Bảo vệ Môi trờng ( 1993 ), Nghị định 175 / CP về ” Hớng dẫn thi hành luật bảo vệ môi trờng “, Nghị định 26 / CPvề ” Xử phạt hành chính trong nghành bảo vệ môi trờng “. Đặc biệt năm 1998, Bộchính trị Ban chấp hành Trung ơng Đảng đã phát hành Chỉ thị 36 / CT-TW về ” Tăngcờng công tác làm việc bảo vệ môi trờng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnớc “. Hệ thống quản trị nhà nớc về bảo vệ môi trờng từ trung ơng đến địa phơngđã đợc hình thành và đi vào hoạt động giải trí nề nếp. Những điều này đã góp thêm phần khôngnhỏ ngăn ngừa ô nhiễm, suy thoái và khủng hoảng và sự cố môi trờng, góp thêm phần cải tổ đáng kểchất lợng môi trờng ở nớc ta. Về chủ trương quản trị sức khoẻ môi trờng, trong thời hạn qua, ngành y tế đãcó một số ít những chủ trương, chiến lợc riêng không liên quan gì đến nhau cho những hoạt động giải trí về sức khoẻ môitrờng nh quản trị chất lợng vệ sinh và bảo đảm an toàn thực phẩm ( Cục Quản lý chất lợngVệ sinh – An toàn thực phẩm, Viện Dinh dỡng, … ), những chủ trương về vệ sinh họcđờng, thiết kế xây dựng những chỉ số nhìn nhận chất lợng nớc hoạt động và sinh hoạt, kiến thiết xây dựng tiêu chuẩnvề vệ sinh lao động và xác lập những bệnh nghề nghiệp v.v… Một yếu tố cơ bản là22ngành y tế đã có một mạng lưới hệ thống hoàn hảo, hoạt động giải trí có hiệu suất cao từ trung ơng đếnđịa phơng, đó là mạng lưới hệ thống y học dự trữ, những hoạt động giải trí về sức khoẻ môi trờng đềuthông qua mạng lưới hệ thống này. Đây là điều kiện kèm theo thuận tiện cho việc thực thi những chủ trương vàchiến lợc về sức khoẻ môi trờng. Tuy nhiên, cho đến nay tất cả chúng ta cha có một hộinghị nào có tầm cỡ vương quốc bàn về chiến lợc, những chủ trương riêng, đơn cử cho sứckhoẻ môi trờng bởi lẽ tất cả chúng ta cũng cha ra đợc một định nghĩa rõ ràng hay mộtkhái niệm đơn cử về sức khoẻ môi trờng ở Nước Ta. Đây là một yếu tố trong thờigian tới những cấp, những cơ sở y tế trong toàn nước cần phải chăm sóc và thực thi. Cơquan giữ vai trò quan trọng trong việc này là Vụ Y tế Dự phòng – Bộ Y tế trong việcphối hợp với ngành môi trờng cần đề xuất nhà nước để có một Hội nghị quốc giabàn về chủ trương và chiến lợc vương quốc về sức khoẻ môi trờng. 7.2. Thực trạng và chiến lợc về sức khoẻ môi trờngTuy Nước Ta đã đạt nhiều tác dụng về bảo vệ môi trờng, tránh hiệu suất cao xấu tácđộng lên sức khoẻ con ngời, nhng còn nhiều yếu tố chưa ổn trong quản trị môitrờng và sức khoẻ môi trờng nh : quy hoạch môi trờng cha lồng ghép với pháttriển kinh tế tài chính – xã hội, giáo dục – huấn luyện và đào tạo, nâng cao nhận thức môi trờng, quy hoạchphát triển đô thị, quy hoạch quản trị toàn diện và tổng thể rừng, vùng ven biển, bảo tồn đa dạngsinh học, v.v…. Hệ thống tổ chức triển khai quản trị, chính sách và chủ trương còn nhiều hạn chế. Kinh phí ít, đầu t giàn trải nên hiệu quả nhiều khi không thấy rõ ràng, làm cho cộngđồng dân c biến hóa nhận thức còn quá chậm, làm cho môi trờng và sức khoẻ môitrờng hiện tại còn nhiều điều cần bàn. 7.2.1. Thực trạnga. Môi trờng liên tục xuống cấpRừng liên tục bị suy thoái và khủng hoảng. Đa dạng sinh học trên đất liền và dới biển liên tục bị suy giảm. Chất lợng những nguồn nớc liên tục xuống cấp trầm trọng. Môi trờng đô thị và công nghiệp liên tục bị ô nhiễm. Chất lợng môi trờng nông thôn có xu hớng xuống cấp trầm trọng nhanh. Môi trờng lao động ngày càng bị nhiễm độc. Sự cố môi trờng ngày càng tăng mạnh. Môi trờng xã hội : phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng, tệ nạn xã hội, v.v…. b. Tác động của môi trờng toàn cầuVấn đề môi trờng của lu vực Sông Mê Kông và Sông Hồng. Vấn đề môi trờng của những rừng chung biên giới. 23V ấn đề ma acid. Vấn đề ô nhiễm tầng khí quyển, hiệu ứng nhà kính và suy giảm tầng ozon, hậuquả của yếu tố này gây ra : + Sự biến hóa khí hậu của toàn cầu đẫn đến sự mất cân đối của hệ sinh thái. + Mực nớc biển dâng cao do nhiệt độ toàn cầu tăng. + Hiện tợng En Ni-nô và La Ni-na làm ngày càng tăng ma bão và hạn hánnghiêm trọng. + Vấn đề ô nhiễm biển và đại dơng. + Vấn đề vận động và di chuyển ô nhiễm. c. Thách thức của môi trờng nớc ta trong thời hạn tớiXu thế suy giảm chất lợng môi trờng liên tục ngày càng tăng. Tác động của những yếu tố môi trờng toàn thế giới ngày càng mạnh và phức tạp hơn. Gia tăng dân số và di dân tự do liên tục gây áp lực đè nén lên môi trờng. Tăng trởng nhanh về kinh tế tài chính cùng với việc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnớc đã và đang ảnh hưởng tác động mạnh lên môi trờng. Hội nhập quốc tế, du lịch và tự do hoá thơng mại toàn thế giới sẽ gây ra nhiều tácđộng phức tạp về mặt môi trờng. Nhận thức về môi trờng và tăng trưởng bền vững và kiên cố còn thấp kém. Năng lực quản trị môi trờng và sức khoẻ môi trờng cha phân phối nhu yếu. Mẫu hình tiêu thụ tiêu tốn lãng phí hay khát tiêu dùng. 7.2.2. Chiến lợcPhòng ngừa ô nhiễm. Bảo tồn và sử dụng vững chắc nguồn tài nguyên vạn vật thiên nhiên, đa dạng sinh họcCải thiện môi trờng tự nhiên và xã hội. 7.2.3. Giải phápTăng cờng giáo dục và nâng cao nhận thức về môi trờng và sức khoẻ môi trờng. Tăng cờng vai trò sự tham gia của hội đồng, doanh nghiệp, t nhân trong bảovệ môi trờng. Tăng cờng và đa dạng hoá đầu t bảo vệ môi trờng. Tăng cờng năng lượng quản trị nhà nớc về môi trờng và sức khoẻ môi trờng. Mở rộng hợp tác quốc tế và lôi cuốn hỗ trợ vốn nớc ngoài. Kết hợp chiến lợc bảo vệ môi trờng vương quốc với chiến lợc tăng trưởng kinh tế tài chính – xã hội. Cần có một chiến lợc vương quốc về sức khoẻ môi trờng. 24

Source: https://thevesta.vn
Category: Sức Khỏe